SKKN Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua sử dụng video trong dạy học môn khoa học tự nhiên lớp 6 - Nguyễn Thị Ngân

docx 12 trang Người đăng Liễu Như Yên Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 2Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua sử dụng video trong dạy học môn khoa học tự nhiên lớp 6 - Nguyễn Thị Ngân", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Mẫu 02/SK 
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
 VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến (Ghi giống trong đơn yêu cầu công nhận sáng kiến): 
 “Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông 
qua sử dụng video trong dạy học môn khoa học tự nhiên lớp 6”.
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử (Ghi ngày nào sớm 
hơn): từ tháng 9 năm 2023
3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có):
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm:
 Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chú trọng phát triển năng lực và phẩm 
chất của người học, nên trong quá trình giảng dạy, người giáo viên phải tiếp cận với 
phương pháp, các ứng dụng để đạt được mục tiêu của bài học.
 Các giải pháp cũ thường chú trọng làm phát huy tính tích cực của học sinh 
thông qua trò chơi, phiếu học tập. Với phương pháp đó sẽ giúp học sinh hứng khởi 
khi học bài nhưng với nhiều nội dung sinh học, học sinh sẽ chưa hiểu được quá trình 
đó diễn ra như thế nào, nên sử dụng video sẽ giúp học sinh hiểu và trình bày được 
các quá trình sinh học. Ví dụ quá trình phân chia của tế bào 
 Hiện nay với sự phát triển của các nền tảng kĩ thuật nên trên các kho học liệu 
số lượng vi deo chất lượng về các quá trình sinh học rất đa dạng. Trong mỗi bài giáo 
viên chưa khai thác hết các dữ liệu sắn có hoặc chưa dành thời gian để sưu tầm video 
phù hợp ứng với mỗi bài học.
 Hình ảnh, sơ đồ về các quá trình sinh học rất đa dạng, học sinh chưa được 
luyện tập và làm quen dẫn tới khi gặp hình ảnh mới sẽ không nhận biết được đó là 
quá trình nào nên không làm được.
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến:
 Thực tế khi giảng dạy môn khoa học tự nhiên tôi thấy: Hầu hết các thầy cô 
giáo đều quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học nhưng ít người chú ý đến 
phương tiện dạy học thường chỉ sử dụng những gì có sẵn trong sách giáo khoa, sử 
dụng ảnh “tĩnh” để giảng dạy, chưa chú ý đến hình thức tổ chức các hoạt động dạy 
học. Do vậy học sinh sẽ cảm thấy vất vả, áp lực, giờ học trôi qua sẽ rất nặng nề nên 
chất lượng giờ dạy không cao.
BM-SK02 Trang 1 Số học sinh tích cực tham gia xây dựng bài còn ít, các em rất ỉ lại và chỉ ghi 
nhớ một cách thụ động trong học tập. Rất nhiều học sinh chỉ học thuộc lòng một 
cách máy móc, chưa biết cách học thực sự hiệu quả. Do vậy, thuộc nhưng không 
nhớ được kiến thức trọng tâm hoặc chỉ học bài nào biết bài đấy, chưa có sự liên hệ 
kiến thức với nhau. Vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống 
về kiến thức.
 Trong khi đó, trình độ học tập của học sinh không đều, tính tự giác và khả 
năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh còn rất hạn chế. Nhiều học sinh chưa 
mạnh dạn phát biểu, không dám nói lên suy nghĩ của mình, không dám phản biện 
trước ý kiến của bạn. 
 Còn nhiều học sinh chưa có hứng thú học tập bộ môn, coi môn khoa học tự 
nhiên là môn phụ nên càng không có đam mê và quyết tâm học tập. 
 Từ những bất cập trên dẫn đến tỷ lệ học sinh làm được bài khảo sát còn ít, 
hiệu quả dạy học không đạt được như ý muốn. Có thể dẫn ra ví dụ như sau về kết 
quả điểm đạt được của học sinh lớp 6A3 khi tôi chưa thực hiện đề tài:
 Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
 Sĩ 
 Lớp (8-10) (6.5-7.9) (5-6.4) (3-4.9) (0-2.9)
 số
 SL % SL % SL % SL % SL %
 6 A3 44 3 6.8 10 22.7 20 45.5 8 18.2 3 6.8
 Với kết quả này cho thấy: đa số học sinh chỉ đạt điểm trung bình, điểm giỏi 
rất ít. Ngoài ra khi trao đổi với học sinh thì đa số đều nói sợ, không hứng thú khi học 
khoa học tự nhiên vì nó rất khó.
 Vậy làm thế nào để học sinh có cái nhìn khác về bộ môn, không thấy sợ vì 
quá khó mà thay vào đó học sinh có hứng thú học bộ môn, rèn được các kĩ năng, 
phương pháp học tập môn khoa học tự nhiên, từ đó học sinh sẽ chủ động, tự tin và 
linh hoạt trong các bài kiểm tra để nâng cao chất lượng bộ môn là điều mỗi giáo viên 
chúng ta phải suy nghĩ.
 Trên thực tế, mỗi giờ học nếu giáo viên không tìm cách tổ chức một giờ dạy 
sinh động, hấp dẫn thì rất khó lôi cuốn được học sinh. Giờ học sẽ tẻ nhạt, nhàm chán 
và không hiệu quả. Vì thế việc đổi mới một cách toàn diện về nội dung lẫn phương 
pháp dạy học khoa học tự nhiên là vô cùng cần thiết.
 Trong những năm trở lại đây, nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang 
được nghiên cứu, áp dụng ở trường phổ thông như: dạy học nêu vấn đề, dạy học 
tích cực,dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo dự án, dạy học với sự hỗ 
trợ của công nghệ. Tất cả đều nhằm mục đích phát huy tính tích cực, chủ động của 
học sinh, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Đặc biệt việc sử dụng video trong 
dạy học các môn nói chung và dạy học khoa học tự nhiên nói riêng, được xem là 
BM-SK02 Trang 2 một trong những công cụ đem lại hiệu qủa tích cực trong việc đổi mới việc dạy và 
học. 
6. Mục đích của giải pháp sáng kiến (Nêu rõ mục đích khắc phục các nhược điểm 
của giải pháp cũ hoặc mục đích của giải pháp mới do mình tạo ra):
 Tìm tòi, vận dụng những video có thể làm cho bài học môn Khoa học tự nhiên 
6 thêm sinh động, dễ nhớ, dễ hiểu.
 Tạo không khí thoải mái, tạo hứng thú học tập cho học sinh, cuốn hút các em 
ngay từ đầu tiết học, định hướng học sinh vào nội dung cơ bản của bài.
 Giúp học sinh mở rộng kiến thức và tăng thêm hiểu biết, làm cho bài học sinh 
động, hấp dẫn, gây hứng thú học tập cho học sinh hơn. Học sinh vận dụng kiến thức 
đã được lĩnh hội vào việc bài tập cụ thể, trả lời được các câu hỏi và yêu cầu của giáo 
viên; tạo tâm lí hồ hởi, thích thú, thoải mái vì hiểu bài; sẵn sàng hoàn thành các 
nhiệm vụ về nhà, các nội dung cần vận dụng và mở rộng kiến thức. Đồng thời, học 
sinh có hứng thú chờ đợi đến tiết học sau.
 Góp phần vào phát triển khả năng quan sát, tư duy giúp các em nhớ kĩ, hiểu 
sâu bài học, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh, đánh thức 
năng lực, tiềm năng, khả năng riêng, khác biệt của mỗi em. 
 Góp phần hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất của người học. Qua 
đó giúp học sinh có khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ, vận 
hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết 
hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống. Đây cũng là mục 
tiêu chung mà chương trình giáo dục phổ thông mới đang hướng tới.
 Hỗ trợ giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập, góp phần tích cực vào 
đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng bộ môn Khoa học tự nhiên. Làm 
cho tiết học bớt khô khan, nặng nề, bài giảng trở nên nhẹ nhàng, sinh động, hấp dẫn, 
hiệu quả giống như vừa học vừa chơi, chơi mà để học.
 Sáng kiến đóng góp với các bạn đồng nghiệp dạy bộ môn khoa học tự nhiên 
nói chung về thực trạng vấn đề sử dụng video trong học môn khoa học tự nhiên hiện 
nay.
 Có nhiều phương tiện trực quan nhưng sử dụng video vẫn là một trong những 
cách mang lại hiệu quả cao nhất. Sáng kiến đã đề xuất các hoạt động khai thác và sử 
dụng video trong dạy học khoa học tự nhiên lớp 6 hiện nay.
 Qua quá trình thực hiện sáng kiến, người nghiên cứu đã xây dựng, chỉnh sửa 
được bộ 18 video phù hợp với đối tượng học sinh và mục tiêu của bài học, với thời 
lượng video hợp lý góp phần bổ sung thêm vào kho học liệu số của trường, bộ môn 
để lưu giữ lâu dài. Đây là nguồn tư liệu để các giáo viên hoàn toàn có thể khai thác, 
sử dụng để phục vụ cho việc dạy học nhắm nâng cao chất lượng bộ môn.
BM-SK02 Trang 3 7. Nội dung:
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến (Nêu rõ, chi tiết và đầy đủ các 
bước thực hiện giải pháp mới hoặc cải tiến và có thể minh họa bằng các bản vẽ, 
thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm, đĩa, bảng biểu, số liệu, ):
 Để phát huy tính tích cực của học sinh khi quan sát video ở môn khoa học tự 
nhiên 6 thì đòi hỏi người giáo viên cần phải chuẩn bị đầy đủ các video phục vụ cho 
bài học, thiết kế bài dạy phù hợp và biết cách tổ chức các hoạt động học tập giúp 
học sinh quan sát video tìm tòi kiến thức. Những yêu cầu trên được cụ thể hóa như 
sau:
 7.1.1. Lập kế hoạch cho việc chuẩn bị video phục vụ dạy học bộ môn khoa 
học tự nhiên lớp 6.
 Giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình khoa học tự nhiên lớp 6 xác định 
các bài có sử dụng video để có kế hoạch chuẩn bị trước khi đến lớp. Giáo viên cần 
chú ý đến thời điểm thực hiện tiết học có liên quan đến video để chủ động chuẩn bị 
video. Điều quan trọng nhất của người dạy lúc này là tìm hoặc xây dựng các đoạn 
video sao cho phù hợp với nội dung từng bài dạy, từng đối tượng học sinh để các em 
tự rút ra được kết luận đúng khi quan sát đoạn phim đó thì hiệu quả giờ học sẽ cao 
hơn, học sinh dễ hiểu bài và nhớ lâu hơn. 
 Thực tế, khi tải các Video Clip trên mạng về thì gặp một số trở ngại như: 
Không có phụ đề Tiếng Việt, thời lượng video clip quá dài, có một những nội dung 
không liên quan nhiều đến nội dung kiến thức sách giáo khoa 
 Vì thế, muốn sử dụng video clip trong dạy học để làm rõ hơn kiến thức lý 
thuyết thì việc đầu tiên là giáo viên phải chỉnh sửa, cắt ghép, thêm phụ đề Tiếng Việt 
hoặc lồng tiếng vào video đó... Hiện nay có rất nhiều phần mềm giúp chỉnh sửa 
video, hoặc chỉnh sửa trực tiếp trên mạng giúp giáo viên có thể dễ dàng làm các thao 
tác như: Cắt từ một video ra nhiều đoạn, ghép các video thành một, lồng nhạc, lồng 
tiếng, 
 Hiện tại chương trình khoa học tự nhiên 6 (sách kết nối tri thức phần sinh học 
gồm 22 bài thực hiện trong 49 tiết) dựa vào việc sưu tầm, cắt ghép . bản thân tôi 
đã tạo được bộ 18 video góp phần bổ sung thêm vào kho học liệu số của trường, bộ 
môn.
 7.1.2. Triển khai biện pháp trong quá trình giảng dạy. 
 a.. Biện pháp 1: Sử dụng video trong hoạt động khởi động 
* Cách 1: Sử dụng video làm trò chơi 
 - GV cần xác định trò chơi để chuẩn bị video.
 - Chia lớp thành 2 hoặc 4 đội chơi dựa theo yêu cầu và tính chất trò chơi.
 - Phổ biến thể lệ trò chơi tới học sinh.
BM-SK02 Trang 4 - Học sinh chơi trò chơi trong thời gian cho phép.
 - Công bố kết quả đội thắng cuộc → trao thưởng/cộng điểm → dẫn dắt vào bài
 → Tạo không khí sôi nổi, hứng thú và nhu cầu tìm hiểu cho học sinh khi bắt 
đầu vào bài mới. 
 Ví dụ: Khi dạy bài “ Thực vật”
 - Để tạo không khí sôi nổi, giáo viên tổ chức trò chơi: “Nhanh tay lẹ mắt”. 
GV: thông báo luật chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 đội chơi, mỗi đội cử 2 người 
tham gia trò chơi (mỗi đội được đổi người 2 lần).
 - GV: Chiếu video bài hát Khu vườn của bé theo link: 
học sinh nghe thảo luận và hoàn thành vào bảng phụ câu hỏi:
 + Kể tên các loài thực vật xuất hiện trong video và các loài thực vật mà em 
 biết trong tự nhiên.
 + Dự đoán chủ đề ngày hôm nay học.
 - GV: tổ chức cho các nhóm chấm.
 GV: dẫn dắt vào bài. Trình bày câu trả lời đúng: Chủ đề sẽ học hôm nay là 
thực vật
 Tuy thực vật rất đa dạng, nhưng chúng có những nhóm chính và đại diện nào 
trong tự nhiên? Chúng có cấu tạo và vai trò như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu bài 
học ngày hôm nay. 
 * Cách 2: Sử dụng video để đặt vấn đề vào bài mới
 - Giáo viên xác định nội dung kiến thức trọng tâm của bài để sử dụng video 
đặt vấn đề. Sử dụng những nội dung của video để đặt câu hỏi hướng học sinh tới nội 
dung của vấn đề cần nghiên cứu trong bài học mới.
 - Giáo viên không nhận xét kết quả trả lời của học sinh mà ghi kết quả dự đoán 
vào 1 góc bảng. Khi giáo viên đã hình thành kiến thức về vấn đề đã đặt ra, yêu cầu 
học sinh nhận xét lại dự đoán của mình ban đầu. Giáo viên sẽ khuyến khích cộng 
điểm nếu học sinh có dự đoán đúng.
 → Đa số học sinh tập trung vào tiết học hơn, tò mò về dự đoán của mình.
 Ví dụ: Khi dạy bài “Virus”
 - Giáo viên yêu cầu học sinh xem video về virut corona trả lời câu hỏi: Nêu 
hình dạng và cấu tạo virus corona, con đường lây bệnh và cách phòng chống? 
 - Học sinh trả lời 
 - GV: dẫn dắt vào bài: Theo em virus là gì? Có phải tất cả virus đều có cấu 
tạo như vậy không? Làm thế nào để phòng bệnh do virus gây ra chúng ta cùng nghiên 
cứu bài hôm nay.
 b. Biện pháp 2: Sử dụng video trong hoạt động hình thành kiến thức mới.
 * Cách 1: Sử dụng video để khai thác kiến thức bài học.
BM-SK02 Trang 5 Áp dụng cách này, giáo viên đi theo ba bước chính: 
 - Giáo viên định hướng (nêu câu hỏi)
 - Sử dụng đoạn video 
 - Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập (trả lời câu hỏi) dưới 1 trong 2 hình 
thức hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.
 * Dùng video trong hoạt động cá nhân
 - Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát video và trình bày trước lớp nội dung 
trả lời của câu hỏi giáo viên đặt ra liên quan đến video. Sau đó giáo viên cho các học 
sinh trong lớp nhận xét, bổ sung. 
 → Giúp học sinh khắc sâu kiến thức, rèn luyện năng lực tự chủ và tự học, 
năng lực ngôn ngữ, phẩm chất chăm chỉ. Nhưng đối với một số học sinh yếu sẽ mất 
thời gian khi tìm hiểu và trình bày, ảnh hưởng đến thời gian của tiết học, còn có em 
không tập trung, làm việc riêng. 
 Ví dụ khi dạy bài “Thực hành quan sát và mô tả cấu tạo cơ thể người” mục 
2. Thực hành quan sát và mô tả cấu tạo cơ thể người.
 Giáo viên cho học sinh khai thác đoạn video “Bên trong cơ thể bạn có gì” theo 
trình tự:
 - Yêu cầu HS hoạt động cá nhân → quan sát hình ảnh, xem băng và hoàn 
thành nội dung trong bảng sau:
 Đặc điểm
 STT Các cơ quan cấu tạo Vị trí trên cơ thể
 Hệ cơ quan
 1 Hệ tiêu hóa
 2 Hệ tuần hoàn
 3 Hệ thần kinh
 - Báo cáo thảo luận: GV yêu cầu 1- 2 HS trình bày
 → HS khác nhận xét bổ sung.
 - GV: Nhận xét và chốt lại kiến thức. 
 * Dùng video trong hoạt động nhóm: Tiến trình tổ chức hoạt động nhóm 
để quan sát video:
 - Giáo viên phân chia các nhóm, yêu cầu mỗi nhóm cử ra nhóm trưởng điều 
hành nhóm và theo dõi ý thức của các bạn trong nhóm, 1 học sinh làm thư kí ghi kết 
quả thảo luận của nhóm (trừ trường hợp thảo luận cặp đôi). 
 - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ học tập theo 2 cách (hệ thống câu hỏi trên 
bảng hay thiết kế trên powerpoint hoặc phiếu học tập). Trong quá trình thực hiện 
nhiệm vụ học tập, mỗi học sinh trong nhóm phải có sản phẩm cá nhân → nhóm 
trưởng điều hành nhóm thống nhất nội dung theo yêu cầu mà giáo viên đặt ra.(Giáo 
BM-SK02 Trang 6 viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể cách quan sát video như quan sát nội dung gì 
của video,...
 - Giáo viên theo dõi các nhóm thực hiện nhiệm vụ học tập, sửa sai và trợ giúp 
khi cần thiết. 
 - Giáo viên tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học 
tập theo một trong các cách sau:
 + Một là giáo viên lấy bài của các nhóm, cho các nhóm chấm chéo (ví dụ 
nhóm 1 chấm bài nhóm 3, nhóm 2 chấm bài của nhóm 4,...). Chiếu đáp án của phiếu 
học tập lên powerpoint, yêu cầu các nhóm quan sát, chấm bài và nhận xét kết quả 
thực hiện nhiệm vụ của nhóm bạn.
 + Hai là giáo viên có thể chiếu hoặc treo đáp án chuẩn, yêu cầu các nhóm 
quan sát và tự nhận xét, chấm điểm kết quả của nhóm mình.
 + Ba là giáo viên yêu cầu 1 nhóm báo cáo hoặc lấy sản phẩm của nhóm hoàn 
thành nhanh nhất treo lên bảng, sau đó cho các nhóm khác nhận xét, bổ sung, phản 
biện lẫn nhau rồi mới chiếu hoặc treo đáp án chuẩn.
 Sau đó giáo viên phải thu lại tất cả các phiếu học tập để chấm lại thêm 1 lần 
nữa, nếu có sự sai sót thì phải nhắc nhở nhóm đó ngay hoặc nhắc vào tiết sau nếu 
tiết trước không có thời gian. 
 → Khi tổ chức thảo luận nhóm, học sinh sẽ có sự kết hợp giữa làm việc cá 
nhân với làm việc nhóm để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác để giải quyết 
vấn đề. Từ đó học sinh sẽ rèn luyện được năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao 
tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ; phẩm 
chất chăm chỉ, nhân ái, trách nhiệm, trung thực.
 Một điều đáng lưu ý là trong khi tổ chức cho học sinh quan sát video thì không 
tránh khỏi việc các em trong nhóm thảo luận gây mất trật tự trong nhóm. Để khắc 
phục điều trên, giáo viên cần quán triệt các quy định trước khi quan sát video và có 
thang điểm trừ vào bài kiểm tra đánh giá học sinh nếu học sinh vi phạm. 
 Ví dụ khi dạy bài ‘Sự lớn lên và sinh sản ở tế bào” mục 2.Tìm hiểu về sự 
sinh sản (phân chia) của tế bào và mối quan hệ giữa lớn lên và phân chia tế bào.
 Giáo viên cho học sinh khai thác đoạn video “Sự phân chia tế bào” theo trình 
tự 3 bước: Quan sát đoạn video, cá nhân hoàn thành phiếu học tập, sau đó thảo luận 
nhóm thống nhất kết quả: các giai đoạn trong quá trình sinh sản của tế bào.
 Phiếu học tập: Quan sát đoạn video về quá trình phân chia tế bào (thực vật). 
Tìm từ phù hợp để hoàn thành đoạn thông tin dưới đây.
Quá trình phân chia của tế bào gồm hai giai đoạn:
 + Phân chia (1) : Nhân của tế bào nhân đôi và đi về hai cực tế bào
BM-SK02 Trang 7 + Phân chia (2) : Tế bào chất chia đều cho hai tế bào 
 con bằng cách hình thành vách ngăn ngang (ở tế bào thực vật) hoặc màng tế 
 bào thắt lại (ở tế bào động vật).
 - Kết quả: Từ 1 tế bào trưởng thành sau khi phân chia (1 lần) hình thành 
 (3) tế bào con.
 - Tế bào non nhờ quá trình (4) mà thành tế bào trưởng thành có khả 
năng phân chia (sinh sản). Kết quả của quá trình (5) lại sinh ra những tế 
bào non mới. 
* Giáo viên giao nhiệm vụ:
 - Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động cá nhân quan sát đoạn video, tìm kiếm 
thông tin để lựa chọn những nội dung phù hợp hoàn thành phiếu học tập tìm hiểu về 
sự phân chia của tế bào và mối quan hệ giữa quá trình lớn lên và phân chia tế bào. 
(Lưu ý giáo viên nên cho học sinh đọc yêu cầu của phiếu học tập trước rồi mới chiếu 
video cho học sinh quan sát)
 - Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động nhóm (3 phút) thống nhất kết quả.
* Thực hiện nhiệm vụ:
 - Học sinh hoạt động cá nhân hoàn thành phiếu học tập, sau đó trao đổi nhóm 
4-6 học sinh trong 3 phút, dựa vào đoạn video và hình 20.2 (SGK khoa học tự nhiên 
6 sách kết nối tri thức với cuộc sống) → hoàn thành tìm hiểu về quá trình phân chia 
của tế bào và mối quan hệ giữa quá trình lớn lên và phân chia tế bào.
* Báo cáo thảo luận:
 - Giáo viên yêu cầu 2 nhóm nhanh nhất đại diện lên báo cáo kết quả hoạt động 
nhóm.
 - Các nhóm khác nhận xét, bổ sung và thống nhất chốt lại kết quả cuối cùng 
về sự phân chia của tế bào và mối quan hệ với sự lớn lên. 
* Kết luận, nhận định: 
 - Giáo viên nhận xét kết quả hoạt động của các nhóm.
 - Chốt lại hai bước của quá trình phân chia và mối quan hệ giữa phân chia và 
lớn lên.
*Cách 2: Sử dụng video để minh hoạ cho kiến thức bài học. 
 Theo cách này, sau khi giáo viên trình bày xong một đơn vị kiến thức khó sẽ 
cho học sinh xem video để các em có thể hiểu sâu thêm kiến thức của bài học.
 Ví dụ khi dạy bài “Cấu tạo và chức năng các thành phần của tế bào” mục 
I. Cấu tạo tế bào 
 Sau khi cho học sinh hoạt động tìm hiểu về cấu tạo tế bào, giáo viên cho học 
sinh xem đoạn video “Cấu tạo và chức năng của tế bào” nhằm minh họa rõ nét hơn 
về cấu tạo và chức năng của các thành phần trong tế bào.
BM-SK02 Trang 8 c. Biện pháp 3: Sử dụng video trong hoạt động luyện tập
 Ở phần này, giáo viên có thể linh hoạt chuyển giao nhiệm vụ cho các em bằng 
các video sẵn có và kết hợp thêm video tương tự trong tiết học 
 - Dựa vào nội dung bài học để chuyển giao nhiệm vụ cho các em bằng 2 cách.
*Cách 1: Sử dụng video để chơi trò chơi:
 +) Chia lớp thành các đội chơi theo tính chất trò chơi.
 +) Phổ biến thể lệ trò chơi.
 +) Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi.
 +) Đánh giá kết quả trò chơi (giáo viên đánh giá hoặc các nhóm đánh giá chéo) 
 +) Giáo viên công bố đội giành chiến thắng và có hình thức khen thưởng phù 
 hợp.
 → Khi thực hiện trò chơi thì học sinh sẽ hào hứng, thích thú, khắc sâu kiến 
thức. Tuy nhiên, giáo viên sẽ mất thời gian khi chuẩn bị video, có sự đầu tư khi thiết 
kế trò chơi.
 Ví dụ khi dạy bài: “Cơ thể sinh vật”
Ở phần luyện tập, giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Ai nhanh hơn”
 * Chuyển giao nhiệm vụ học tập:
 - GV nêu luật chơi của trò chơi “Ai nhanh hơn” 
 - GV chia nhóm HS tham gia chơi (2 đội chơi).
 - HS tập hợp thành nhóm, đọc kĩ luật chơi.
 - GV cho HS quan sát video “ai nhanh hơn”
* Thực hiện nhiệm vụ học tập:
 - HS tham gia trò chơi “Ai nhanh hơn” lần lượt mỗi thành viên của đội sẽ sắp 
xếp các sinh vật trong video vào 2 nhóm: Sinh vật đơn bào và sinh vật đa bào( ghi 
vào bảng phụ)
 - GV đặt câu hỏi: 
 + Dấu hiệu căn bản giúp nhận diện sinh vật đơn bào và sinh vật đa bào là gì?
 + Chức năng của các tế bào trong cơ thể sinh vật đa bào có đặc điểm gì?
* Cách 2: Dựa trên video để nhắc lại kiến thức mới tìm được
 +) Giáo viên sử dụng các video tương tự, đặt câu hỏi liên quan đến video.
 +) Gọi một vài học sinh bất kì trình bày
 +) Cho các học sinh khác trong lớp nhận xét, đánh giá
 +) Giáo viên nhận xét, đánh giá học sinh
 Ví dụ khi dạy bài “Virus”
 - GV: Chiếu video “HIV/AIDS là gì?” theo đường link: 
 GV yêu cầu học sinh nghe, trả lời câu hỏi:
BM-SK02 Trang 9 + Nêu đặc điểm của virus HIV, con đường lây nhiễm và cách phòng tránh?
 7.1.3. Các lưu ý khi sử dụng biện pháp
 - Giáo viên cần xem trước nội dung, chọn lọc những đoạn video có nội dung 
phù hợp nhất với bài học, có thời lượng vừa đủ. 
 - Không sử dụng nhiều video trong một tiết dạy. Nên đưa đoạn video vào 
hoạt động nào để đem lại hiệu quả cao nhất cho bài học, tạo hứng thú cho học sinh 
học tập một cách tích cực, chủ động. 
 - Giáo viên cần xây dựng được các câu hỏi hợp lý để khai thác nội dung 
đoạn phim theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. 
 - Giáo viên cần phải xác định được thời điểm hợp lí để hướng dẫn học sinh
 sử dụng, khai thác đoạn video. 
 - Giáo viên xây dựng các câu hỏi hay tình huống có vấn đề trước khi học 
sinh xem video.
* Kết quả của sáng kiến (Số liệu cụ thể):
 Để đánh giá mức độ hiểu biết, khả năng vận dụng kiến thức của học sinh, cũng 
như hiệu quả của những sáng kiến mà tôi đề xuất tôi. Sau khi đã áp dụng các giải 
pháp ở lớp 6ª3 tôi tiếp tục tiến hành kiểm tra khảo sát học sinh, tiến hành chấm bài 
và thống kê điểm, kết quả thu được ở Bảng 1và so sánh tại Biểu đồ 1. 
 Giỏi Khá Trung Yếu Kém
 Sĩ (8-10) (6.5-7.9) bình (3-4.9) (0-2.9)
 Đặc điểm
 số (5-6.4)
 SL % SL % SL % SL % SL %
 Trước khi áp dụng 
 44 3 6.8 10 22.7 20 45.5 8 18.2 3 6.8
 sáng kiến
 Sau khi áp dụng 
 44 7 15.9 17 38.6 15 34.1 5 11.4 0 0
 sáng kiến
 Bảng 1: Kết quả thăm dò năng lực học tập của học sinh lớp 6A3
 Biểu đồ 1: Kết quả thăm dò năng lực học tập của học sinh lớp 6A3
BM-SK02 Trang 10 Từ kết quả bảng và biểu đồ cho thấy mức độ chênh lệch về điểm kiểm tra khảo 
sát giữa các nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm, điểm 8- 10 ở nhóm đối chứng là 
6,8% trong khi đó nhóm thực nghiệm là 15,9%, nhóm đối chứng tập trung nhiều ở 
mức điểm 5-6,4, số điểm kém là 6,8%. Học sinh đạt điểm giỏi của nhóm thực nghiệm 
hơn hẳn nhóm đối chứng. Kết quả này khẳng định tính hiệu quả của việc thực hiện 
một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua sử 
dụng video trong dạy học môn khoa học tự nhiên lớp 6 có thể giúp cho học sinh có 
cách suy luận, phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo và nâng cao tỉ lệ học sinh giỏi 
tốt hơn việc dạy học bằng phương pháp không sử dụng video. 
 Bên cạnh đó tôi cũng thăm dò hứng thú học tập của học sinh đối với môn 
Khoa học tự nhiên ở lớp 6A3 (trước và sau khi áp dụng sáng kiến) để đánh giá lợi 
ích của sáng kiến.
7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến.
 Sáng kiến đã được áp dụng với học sinh lớp 6 học môn Khoa học tự nhiên tại 
trường THCS TT Nham Biền số 1.
 Nội dung của sáng kiến cũng là phương pháp sử dụng chung cho bộ môn khoa 
học tự nhiên lớp ở cả cấp học; là một tham khảo có giá trị đề giáo viên một số môn khác 
như Lịch sử và Địa lí, Ngữ văn, Giáo dục công dân cũng có thể vận dụng.
7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến. 
 Sáng kiến đã đưa ra được những giải pháp mang tính mới và sáng tạo trong 
dạy học môn môn khoa học tự nhiên lớp 6. Các giải pháp mà tôi đưa ra đã góp phần 
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, giúp các em hứng thú hơn trong học 
tập, ghi nhớ sâu hơn về thế giới thực vật, động vật, cơ thể người. Góp phần làm cho 
giờ dạy của giáo viên thêm sinh động, hấp dẫn, cuốn hút học sinh. Trên cơ sở đó, 
sáng kiến sẽ đóng góp một phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học khoa học tự 
nhiên lớp 6.
 Sáng kiến không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức về môn khoa học tự 
nhiên lớp 6 mà còn hình thành và rèn luyện các kĩ năng học tập, kĩ năng sống cho 
học sinh, đặc biệt là ý thức vận dụng những hiểu biết tổng hợp của mình vào thực tế 
cuộc sống.
 * Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và 
không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
 Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến
 (Chữ ký, dấu) (Chữ ký và họ tên)
 Nguyễn Thị Ngân
BM-SK02 Trang 11 BM-SK02 Trang 12

Tài liệu đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_nham_phat_huy_tinh_tich_cuc_chu_dong_c.docx