Tuần: 20 Ngày soạn: 17-12-2020 Tiết : 52, 53 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ (Nói giảm, nói tránh) I. MỤC TIÊU : 1/ Kiến thức: Khắc sâu hơn những kiến thức đã học về biện pháp tu từ: Nói quá, nói giảm, nói tránh 2/ Kĩ năng: Nhận biết các biện pháp tu từ trong lời nói hàng ngày và trong tác phẩm văn học. Phân tích được hiệu quả diễn đạt của các biện pháp tu từ trong tác phẩm văn học. 3/ Thái độ: Có ý thức vận dụng biện pháp tu từ phù hợp với mục đích và hoàn cảnh giao tiếp. II. CHUẨN BỊ : - Thầy : giáo án, SGK, đọc tư liệu tham khảo, chuẩn KTKN - Trò : ôn lại phần các biện pháp tu từ. III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP : 1. Ổn định lớp : 2. Kiểm tra bài cũ : 3.Nội dung bài mới : Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung cơ bản Hoạt động 1: Những lưu I- Những lưu ý chung ý chung - Nói giảm , nói tránh còn gọi là uyển ngữ, nhã ngữ GV hướng dẫn HS nêu ví - Nói giảm, nói tránh thường được dụ dùng trong các trường hợp: Đề cập chuyện đau buồn; tránh thô Có bài ca dao vui sau: tục Ví dụ : - Nói giảm, nói tránh ít dùng trong “Lỗ mũi mười tám gánh -Chí ta lớn biển văn bản hành chính.. lông Đông trước mặt II- Luyện tập - Bỗng lòe chớp đỏ 1- Xác định nói giảm, nói tránh Chồng yêu chồng bảo râu Thôi rồi Lượm trong các văn bản đã học và chỉ ra tác rồng trời cho ơi ! dụng? Đêm nằm thì ngáy o o - Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng. Chồng yêu chồng bảo ngáy Ngày tháng mười 2- Tìm bài văn, thơ.. mà các em biết cho vui nhà chưa cười đã tối có sử dụng nói giảm, nói tránh và chỉ ra tác dụng? Đi chợ thì hay ăn quà 3- Đọc bài ca dao và hãy cho biết Chồng yêu chồng bảo về trong bài ca dao trên, tác giả dân gian nhà đỡ cơm.” -> Bài ca dao sử đã sử dụng lối nói (hay còn gọi biện dụng lối nói quá với pháp tu từ) nào các em đã được học? Hãy cho biết trong việc tô đậm, phóng Nêu tác dụng của cách nói ấy? bài ca dao trên, tác giả dân đại sự thô kệch, xấu gian đã sử dụng lối nói xí, xấu tính của (hay còn gọi biện pháp tu người vợ như lông từ) nào các em đã được trong lỗ mũi mọc học? Nêu tác dụng của dài và rậm có thể cách nói ấy? cắt được 18 gánh; đêm nằm ngáy vang (GV gọi học sinh trả lời và nhà: o, o; đi chợ thì nhận xét, sữa chữa) chuyên ăn quà vặt. Thế nhưng tất cả sự xấu xí đó đều trở Tìm bài văn, thơ.. mà các nên thật đẹp, thật em biết có sử dụng trợ từ, đáng yêu trong cặp thán từ, tình thái từ, nói mắt si tình của quá, nói giảm, nói tránh và người chồng qua chỉ ra tác dụng? các hình ảnh phóng đại như: râu rồng 4-Tại sao Tố Hữu không viết: “Bác trời cho vv đã chết rồi” sao, Bác ơi! Mà dùng từ Tại sao Tố Hữu không đi? viết: “Bác đã chết rồi” sao, Bác ơi! Mà dùng từ đi? -> Từ “đi” gợi cảm giác nhẹ hơn, xoa dịu nỗi trống trải, hụt hẫng, bàng hoàng đau đớn tột cùng của nhà thơ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung khi Bác Hồ đã chết. Hơn nữa từ “đi” làm cho độc giả ngỡ rằng Bác vừa mới tạm biệt chúng ta để có một chuyến đi xa rồi Người sẽ trở lại. 1. Tìm câu thơ ca có sử - Bài toán nay tớ dụng nói quá: 5. Tìm câu thơ ca có sử dụng nói nghĩ đã nát óc mà quá: chưa giải được. - Kiều có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành. - Việc xây dựng các nhà máy thủy điện, có khác gì chúng ta dời non lấp 2. Thành ngữ có biện biển. HS nêu kết quả tìm pháp nói quá. - Bà Nữ Oa là người đội đá vá trời. - được theo nhóm Bộ đội ta mình đồng da sắt. -> Hướng dẫn Hs nêu nội 6. Thành ngữ có biện pháp nói giá trị của biện pháp nới quá. quá trong ví dụ đó. - Nhìn như muốn nuốt chửng người ta - Ăn như lợn. - Khỏe như voi. - Nhanh như cắt. -> Rất khỏe - Hiền như đất. - Chậm như rùa. 3. Viết đoạn văn hoặc làm 7. Viết đoạn văn hoặc làm một bài một bài thơ có dùng đến thơ có dùng đến biện pháp nói quá. biện pháp nói quá. CA DAO (Sưu tầm) - Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo : Tơ hồng trời cho. Đêm nằm thì gáy o o, Chồng yêu chồng bảo : Ngáy cho vui 4. (Thảo luận ờ tổ hoặc ở nhà. lớp) Phân biệt biện pháp Đi chợ thì hay ăn quà tu từ nói quá với nói HS viết đoạn văn đảm Chồng yêu chồng bảo : về nhà đỡ khoác. bảo nội dung và hình cơm. thức... Gợi ý: Nói quá và nói Trên đầu những rác cùng cơm. khoác đều là phóng đại quy Chồng yêu chồng bảo : Hoa thơm rắc mô, tính chất của sự vật, đầu. hiện tượng nhưng khác - Làm trai cho đáng sức trai nhau ở mục đích. Nếu nói Khom lưng uốn gối gánh hai hạt quá là biện pháp tu từ vừng. nhằm mục đích nhấn - Mình chạy như bay đến nỗi mấy mạnh, gây ấn tượng, tăng chiếc máy bay đuổi theo cũng không sức biểu cảm thì nói khoác kịp. Thế mà vẫn không kịp giờ vào lại nhằm làm cho người lớp. Sau khi xin cô giáo vào lớp, nghe tin vào những điều mình ngồi xuống đọc đề văn rồi không có thực. ngoáy như điên mà cũng không kịp. 8. (Thảo luận ờ tổ hoặc ở lớp) Phân biệt biện pháp tu từ nói quá với nói khoác. 4. Củng cố: Tạo lập đoạn văn có nói giảm.. 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới: Tập viết đoạn văn IV. Rút kinh nghiệm: Ngày soạn: 20-12-2020 Tiết: 54: Kiểu câu xét theo mục đích nói I. MỤC TIÊU : 1/ Kiến thức Củng cố và nâng cao cách nhận diện đặc điểm hình thức, chức năng của mỗi kiểu câu: nghi vấn, cầu khiến, cảm thán và trần thuật. 2/ Kĩ năng: Rèn tư duy trong việc so sánh sự khác biệt giữa các kiểu câu để xác định và sử dụng hợp lý. 3/ Thái độ: Có ý thức rèn luyện và sử dụng các kiểu câu phù hợp vào các tình huống giao tiếp. II- CHUẨN BỊ: Thầy: Soạn giáo án, sưu tầm ngữ liệu Trò: Ôn phần văn nghị luận. III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP : 1. Ổn định lớp : 2. Kiểm tra bài cũ : 3.Nội dung bài mới : Hoạt động của thầy Hoạt động của Nội dung cơ bản trò Hoạt động 1: Khái niệm I- Lí thuyết: Câu cầu khiến a- Khái niệm: Nhắc lại khái niệm, nêu ví Câu nghi vấn b- Các hình thức thường gặp trong dụ. được cấu tạo câu cầu khiến: Các hình thức thường gặp bằng từ chỉ trong câu cầu khiến? - Câu nghi vấn được cấu tạo bằng mệnh lệnh: Hãy, từ chỉ mệnh lệnh: Hãy, đừng đừng - Các từ chỉ mệnh lệnh: đi, thôi, Các từ chỉ mệnh nào Hoạt động 2: thực hành lệnh: đi, thôi, - Ngữ điệu: nào II- Thực hành 1/ Tìm các câu cầu khiến Ngữ điệu trong các câu dưới đây và chỉ 1/ Tìm các câu cầu khiến trong các câu ra những dấu hiệu hình thức dưới đây và chỉ ra những dấu hiệu hình của các câu cầu khiến đó : thức của các câu cầu khiến đó : HS làm bài tập a. Đừng cho gió thổi nữa ! Đừng nhanh cho gió thổi nữa ! (Cây bút thần) b. Con trăn ấy là của vua nuôi đã lâu. Nay em giết nó, tất không khỏi bị tội chế. Thôi bây giờ nhân trời chưa sáng em hãy trốn ngay đi. Có chuyện gì để anh ở nhà lo liệu. (Thạch Sanh) c. Đã ăn thịt còn lo liệu thế nào ? Mày đừng có làm dại mà bay mất đầu, con ạ ! (Em bé thông minh) d. Bưởi ơi nghe ta gọi Đừng làm cao Đừng trốn tránh Lên với tao Vui tiếp nào ! 2) Tìm các câu cầu khiến (Chuyện Lương Thế Vinh) trong các câu dưới đây. Hãy a.Ừ, được ! e. Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long giải thích tại sao trong các Quân. câu cầu khiến đó không có b. Cho gió to (Sự tích Hồ Gươm) chủ ngữ. thêm một tí ! 2) Tìm các câu cầu khiến trong các câu Cho gió to thêm dưới đây. Hãy giải thích tại sao trong một tí ! các câu cầu khiến đó không có chủ c. Nộp tiền sưu ! ngữ. Mau ! a. Ừ, được ! Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.(Sọ Dừa) b. Cho gió to thêm một tí ! Cho gió to thêm một tí ! (Cây bút thần) c. Thằng kia ! Ông tưởng mày chết 3) Tìm các câu cầu khiến đêm qua, còn sống đấy à ? Nộp tiền trong các câu sau đây. Hãy sưu ! Mau ! (Ngô Tất tố) giải thích tại sao trong các 3) Tìm các câu cầu khiến trong các câu câu cầu khiến đó có chủ ngữ. -Mẹ ra mời sứ sau đây. Hãy giải thích tại sao trong Nếu bỏ chủ ngữ đi thì có giả vào đây. các câu cầu khiến đó có chủ ngữ. Nếu được không ? bỏ chủ ngữ đi thì có được không ? a) Đứa bé nghe tiếng rao, bỗng dưng cất tiếng nói : -Mẹ ra mời sứ giả vào đây. (Thánh Gióng) b) Ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim. (Em bé thông minh) 4) Chỉ ra những từ ngữ biểu 4) Chỉ ra những từ ngữ biểu thị ý van thị ý van xin trong các câu xin trong các câu cầu khiến sau : cầu khiến sau : a) Nhà cháu đã túng lại phải đóng cả suất sưu của chú nó nữa, nên mới lôi thôi như thế. Chứ cháu có dám bỏ bễ tiền sưu của nhà nước đâu ? Hai ông làm phúc nói với ông lí cho cháu khất (Ngô Tất Tố) 5) Chỉ ra sự khác nhau về b) Khốn nạn ! Nhà cháu đã không có, hình thức câu cầu khiến và dẫu ông chửi mắng cũng đến thế thôi. sự thay đổi quan hệ giữa Xin ông trông lại ! (Ngô Tất Tố) người nói và người nghe 5) Chỉ ra sự khác nhau về hình thức câu trong các câu sau (trích từ cầu khiến và sự thay đổi quan hệ giữa truyện Ông lão đánh cá và người nói và người nghe trong các câu con cá vàng) sau (trích từ truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng) a) Lão đi tìm con cá và bảo nó tao không muốn làm một bà phu nhân nữa, tao muốn làm nữ hoàng kia. b) Mày hãy đi tìm con cá, bảo nó tao không muốn làm nữ hoàng, tao muốn làm Long Vương ngự trên mặt biển, để 7) Đặt các câu cầu khiến để : con cá vàng hầu hạ tao và làm theo ý a) Nói với bác hàng muốn của tao. xóm cho mượn cái thang. 6) Chỉ ra sự khác nhau về hình thức b) Nói với mẹ để xin ít trong các câu cầu khiến sau để thấy sự tiền mua sách. thay đổi thái độ của người mẹ (trích từ c) Nói với bạn để Cuộc chia tay của những con búp bê – mượn quyển vở. Khánh Hoài). Chỉ ra các từ ngữ biểu thị (1) Mẹ tôi, giọng khản đặc, từ trong những sắc thái khác nhau màn nói vọng ra : làm cho câu cầu khiến phù -Thôi, hai đứa liệu mà đem chia hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đồ chơi ra đi. phù hợp với quan hệ giữa (2) Đem chia đồ chơi ra đi ! – Mẹ tôi ra người nói và người người lệnh. nghe. (3) Lằng nhằng mãi. Chia ra ! – Mẹ tôi quát và giận dữ đi về phía cổng. 4. Củng cố: Nhắc lại nội dung cơ bản (tham khảo bài tập bổ sung) 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới: Xác định kiểu câu trong đoạn văn cụ thể. IV. Rút kinh nghiệm: Kí duyệt tuần 20 ngày 6.1.2021 Tổ trưởng ND, HT: PP: Nguyễn Thị Định Tuần: 20 Ngày soạn: 15-12-2018 Tiết : 55 Các kiểu bài văn thuyết minh (08 tiết) I. MỤC TIÊU : 1/ Kiến thức: - Hiểu khái niệm các kiểu bài thuyết minh. - Nắm vững yêu cầu, cách nhận diện đề bài và cách làm bài cho từng kiểu bài thuyết minh. - Phân biệt được điểm giống nhau và khác nhau giữa các kiểu bài thuyết minh 2/ Kĩ năng: - Biết viết thành thạo bài văn thuyết minh về nhiều lĩnh vực trong đời sống con người. - Vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp thuyết minh, các kĩ năng chứng minh, giải thích, bình luận làm nổi bật đối tượng của bài văn thuyết minh 3/ Thái độ: Có ý thức tìm hiểu, quí trọng các giá trị vật chất, tinh thần từ các sự việc, sự kiện, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội II. CHUẨN BỊ : - Thầy : giáo án, SGK, đọc tư liệu tham khảo, chuẩn KTKN - Trò : ôn lại phần văn thuyết minh đã học. III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP : 1. Ổn định lớp : 2. Kiểm tra bài cũ : 3.Nội dung bài mới : Hoạt động của thầy Hoạt động Nội dung cơ bản của trò Hoạt động 1: HD HS tìm hiểu lý I/ Các kiểu bài thuyết minh: thuyết 1/ Thuyết minh về một vật dụng (đồ dùng): - Thế nào là thuyết minh về con 2/ Thuyết minh về một loài vật (loài người? HS nêu cây, con vật). khái niệm 3/ Thuyết minh về một phương pháp (cách làm). 4/ Thuyết minh về danh lam thắng Khi làm bài thuyết minh về con HS thảo cảnh. người, em cần lưu ý gì? luận và 5/ Thuyết minh về con người. nêu dàn ý a/ Khái niệm kiểu bài. cơ bản b/ Lưu ý cách làm: - Giới - Giới thiệu về tiểu sử, cuộc đời: Ngày, thiệu về tháng, năm sinh, quê quán, gia đình, tiểu sử, năng khiếu, sở thích, những giai đoạn cuộc đời: chính của cuộc đời. - Giới thiệu về sự nghiệp: Những chiến - Giới công, những tác phẩm, những công thiệu về sự trình, những đóng góp cho đất nước, xã Hướng dẫn HS vận dụng lập dàn nghiệp: hội, ảnh hưởng đối với cộng đồng. ý: Giới thiệu về Bác Hồ. - Vai trò, ý nghĩa trong đời sống văn - Vai trò, ý hóa, tâm linh của cộng đồng. nghĩa c/ Vận dụng trong đời Giới thiệu Bác Hồ sống văn 1.Mở bài:đất nước Việt Nam tự hào về hóa, tâm Bác Hồ bởi Bác chính là tinh hoa linh của truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, là Bác sống như trời đất của ta, cộng đồng. lãnh tụ vĩ đại, anh hùng cứu nước, danh Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành nhân văn hóa thế giới hoa, 2.Thân bài: Tự do cho mỗi đời nô lệ,. *Giới thiệu quê quán, xuất thân.. Sữa để em thờ, lụa tặng già. *Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại: (Bác ơi- Tố Hữu) - Bác đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình đối với nhân dân, với đất Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta, nước. Thương cuộc đời chung thương cỏ - Bác là người sáng lập ra Đảng CSVN, Vận dụng cùng Đảng dẫn đừờng chỉ lối cho sự hoa, và lập dàn nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Chỉ biết quên mình cho hết thảy, ý thóat khỏi xiềng xích nô lệ của thực Như dòng sông chảy nặng phù sa. dân,phong kiến (Theo chân Bác – Tố Hữu). - Bác đã trở thành vị chủ tịch nước đầu tiên của nước VN có chủ quyền ,tự do, độc lập. Bác cống hiến cuộc đời mình cho lí tưởng cao đẹp: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước xây dựng VN thành một quốc gia hùng cường. - Bác lãnh đạo nhân dân ta chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khẳng định tên tuổi VN trên trường quốc tế. - Công lao của Bác có thể sánh với trời cao, biển rộng. *Bác Hồ - tấm gương sáng ngời về tình yêu thương, lòng nhân ái - Nếp sống của Bác vô cùng giản dị, GV hướng dẫn HS vận dụng viết gần gũi với cuộc sống nhân dân. đoạn văn - Bác “hi sinh tất cả, chỉ quên mình”, lấy cống hiến cho đất nước làm nìêm vui và hạnh phúc. - Ở Bác hội tụ đủ 3 yếu tố cao quý của phẩm giá:đại trí, đại nhân, đại dũng * Bác là nhà thơ vĩ đại *Tình cảm của nhân dân VN và nhân dân thế giới với Bác Hồ: - Yêu mến, khâm phục và biết ơn sâu sắc -Bác được tôn vinh là lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, chíên sĩ hòa bình, danh nhân văn hóa thế giới. - Bác sống mãi với đất nước và dân tộc. 3.Kết bài: -Tên tuổi của CHủ tịch HCM đã đem lại vinh quang cho dân tộc và đất nước VN. -Các thế hệ sau đang ra sức thực hịên tâm nguyện của Bác Hồ, xây dựng Tổ quốc giàu mạnh,văn minh,sánh vai với các cường quốc năm châu. 4. Củng cố: 3p Đọc thơ viết về Bác 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới:2p Tập tìm ý, lập dàn ý cho một đề bài cụ thể. IV. Rút kinh nghiệm: Tuần: 20 Ngày soạn: 16-12-2018 Tiết : 56 Các kiểu bài văn thuyết minh (08 tiết) I. MỤC TIÊU : 1/ Kiến thức: - Hiểu khái niệm các kiểu bài thuyết minh. - Nắm vững yêu cầu, cách nhận diện đề bài và cách làm bài cho từng kiểu bài thuyết minh. - Phân biệt được điểm giống nhau và khác nhau giữa các kiểu bài thuyết minh 2/ Kĩ năng: - Biết viết thành thạo bài văn thuyết minh về nhiều lĩnh vực trong đời sống con người. - Vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp thuyết minh, các kĩ năng chứng minh, giải thích, bình luận làm nổi bật đối tượng của bài văn thuyết minh 3/ Thái độ: Có ý thức tìm hiểu, quí trọng các giá trị vật chất, tinh thần từ các sự việc, sự kiện, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội II. CHUẨN BỊ : - Thầy : giáo án, SGK, đọc tư liệu tham khảo, chuẩn KTKN - Trò : ôn lại phần văn thuyết minh đã học. III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP : 1. Ổn định lớp : 2. Kiểm tra bài cũ : 3.Nội dung bài mới : Hoạt động của thầy Hoạt động của Nội dung cơ bản trò Hoạt động 1: Hướng dẫn I/ Các kiểu bài thuyết minh: HS lập dàn ý cho đề văn 1/ Thuyết minh về một vật dụng (đồ Giới thiệu tác giả văn học dùng): 2/ Thuyết minh về một loài vật (loài cây, con vật). 3/ Thuyết minh về một phương pháp (cách làm). 4/ Thuyết minh về danh lam thắng cảnh. 5/ Thuyết minh về con người. HS nêu cụ thể kiến thức II/ Thực hành: cần thuyết minh ở từng HS thảo luận và Đề 2: Giới thiệu tác giả văn học phần nêu dàn ý cơ bản MB: Giới thiệu về tác giả TB: 1) Tiểu sử a) Tên thật, năm sinh, năm mất GV hướng dẫn HS thực b) Quê hương, gia đình hành viết đoạn văn c) Cuộc đời 2) Sự nghiệp a) Những tác phẩm tiêu biểu b) Nội dung chủ yếu c) Đặc sắc nghệ thuật Hoạt động 2: Hướng dẫn từ b) và c) => Có dẫn chứng cụ thể và HS lập dàn ý cho đề văn phân tích KB: Đánh giá về tác giả Giới thiệu về sản phẩm/ Đê 3: món ăn là đặc sản quê em Vận dụng và lập Giới thiệu về sản phẩm/ món ăn là dàn ý đặc sản quê em I. Mở bài: Bánh xèo là một loại bánh Việt Nam, có bột bên ngoài,bên trong có nhân là tôm, thịt, giá đỗ, được rán màu vàng, nặn hình tròn hoặc bán nguyệt. Tuỳ theo từng địa phương tại HS nêu cụ thể kiến thức Việt Nam mà bánh được thưởng thức cần thuyết minh ở từng với nét đặc trưng riêng. Thường có 2 phần phong cách : đổ bánh xèo giòn và bánh xèo dai. II. Thân bài: 1) Đậu xanh ngâm nước nóng ấm khoảng 1 tiếng cho bóc vỏ. Đãi GV hướng dẫn HS thực HS thực hành viết vỏ sạch, hấp/luộc chín sao cho đậu vẫn hành viết đoạn văn đoạn văn còn nguyên dạng hạt, không bị bể. 2) Giá rửa sạch để ráo. Hành lá rửa sạch cắt nhỏ. 3) Tôm lột vỏ, làm sạch đường chỉ. I .Mở bài: Nêu lời giới thiệu về Ướp tôm thịt với một tí xíu muối, tiêu, mónbánh Xèo. tỏi ép nhỏ khoảng nửa tiếng cho ngấm II. Thân bài:1. Cách làm bánh : qua cácbước sơ chế (rửa gia vị. nguyênliệu, xử lý các phụ liệu) 4) Cho bột gạo, bột bắp, muối, bột đến nghệ và nước soda vào trộnđều. Cho hành lá vào. Bỏ hỗn hợp vào tủ lạnh - Vị ngọt của chén nước khoảng nửa tiếngtrước khi làm. mắm chấm bánh xèo lấy từ 5) Chiên bánh : nước dừa tươivà đường - Chảo nóng, cho một ít dầu vào. Dầu (nếu không có dừa tươi thì nóng, cho ít lát thịt heo vàvài ba con dùng nước dừa tươi đóng tôm vào xào chín tái, thơm. Dùng vá lon/hoặc không nữa thì tròn to( loại múccanh) múc một vá hỗn phải dùng đường thay thế)- hợp bột bánh xèo (4) đổ tròn vào chảo. chua của chanhhoặc dấm - Vừa đổ vừa quay cán chảo cho bột cay của ớt- thơm của tỏi.- chạy dàn đều một lớp mỏng khắpđáy Nếu không có nước dừa thì chảo phải dùng nước nấu sôi để - Rắc một ít đậu xanh đều lên bề mặt, nguộicũng được nhưng dĩ cho giá vào phần nửa cáibánh. Đậy nắp nhiên là chất lượng sẽ thay lại, đợi khoảng 2~3 phút cho bánh chín đổi vàng. Dùngvá dẹp bẻ gập bánh lại làm - Tại Huế, món ăn này đôi. Lấy bánh ra. thường được gọi là bánh - Cứ thế lập lại cho đến khi hết bột và khoái và thường kèm với tôm thịt rau.- Khi ăn cuốn với rau sà thịt nướng, nước chấm là lách hoặc cải cay và rau thơm, chấm nước lèo gồm tương, gan, vớinước mắm pha chua ngọt lạc. Tại miền Nam Việt .- Pha nước chấm bánh xèo sao cho có Nam, bánh có cho thêm đủ vị ngọt-chua-cay nhưng trứng và người ta ăn bánh rất nhạt, nhạt đến độ có thể húp chén xèo chấm nước mắm chua mắm như canh vậy. Tuy nhiên, phải gia ngọt. Tại miền Bắc Việt giảm đường-nước và nước mắm sao Nam,nhân bánh xèo ngoài cho thoả điều kiện trên. Mình thường các thành phần như các nơi pha theo tỉ lệ gồm : 2 phần đường, 1 khác còn thêm củđậu thái phần mắm và 4 phần nước. mỏng hoặc khoai môn thái - Giá trị, ý nghĩa sợi. Các loại rau ăn kèm III. Kết bài : với bánh xèo cũng rất đa - Bánh Xèo là một trong những món ăn dạng. Cầu kỳ nhất làở các rất “đậm đà” hương vị củangười Việt vùng miền Trung Việt Nam. Ngày nay, bánh Xèo đã được Nam, ngoài rau sống, còn quảng bá ra bênngoài không gian nước thêm quảvả chát, khế chua Việt. Nhiều nghệ nhân làm bánh như .. Bởi vậy, dân sành ăn cứ cụMười Xiềm đã đi Mỹ để thực hiện thấy ngờ ngợ như món này việc làm món bánh Xèo.- Ngày nay, thực sự được bắt nguồn từ cuộc sống xuất hiện nhiều thị hiếu ẩm Huế bánh nhỏ chỉ bằng thực đa dạng.Tuy nhiên, món bánh Xèo một nửa và không cuốn với vẫn được trân trọng. Bánh Xèo rau xà lách mà ăn chung vẫnngon nhờ vào cách phối hợp dinh với nước mắm chín (nước dưỡng, đa dạng có chất béo,đạm, chất mắm đã được giã với tỏi và xơ v.v... Món ngon Bánh Xèo góp phần ớt). tôn lên vẻ đẹpvà tính khoa học của ẩm thực Việt Nam. 4. Củng cố: 3p Đọc văn bản tham khảo 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới:2p Tập tìm ý, lập dàn ý cho một đề bài cụ thể. IV. Rút kinh nghiệm: Tuần: 20 Ngày soạn: 17-12-2018 Tiết : 57 Các kiểu bài văn thuyết minh (08 tiết) I. MỤC TIÊU : 1/ Kiến thức: - Hiểu khái niệm các kiểu bài thuyết minh. - Nắm vững yêu cầu, cách nhận diện đề bài và cách làm bài cho từng kiểu bài thuyết minh. - Phân biệt được điểm giống nhau và khác nhau giữa các kiểu bài thuyết minh 2/ Kĩ năng: - Biết viết thành thạo bài văn thuyết minh về nhiều lĩnh vực trong đời sống con người. - Vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp thuyết minh, các kĩ năng chứng minh, giải thích, bình luận làm nổi bật đối tượng của bài văn thuyết minh 3/ Thái độ: Có ý thức tìm hiểu, quí trọng các giá trị vật chất, tinh thần từ các sự việc, sự kiện, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội II. CHUẨN BỊ : - Thầy : giáo án, SGK, đọc tư liệu tham khảo, chuẩn KTKN - Trò : ôn lại phần văn thuyết minh đã học. III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP : 1. Ổn định lớp : 2. Kiểm tra bài cũ : 3.Nội dung bài mới : Hoạt động của thầy Hoạt động của Nội dung cơ bản trò I/ Các kiểu bài thuyết minh: Hoạt động 1: Hướng dẫn 1/ Thuyết minh về một vật dụng (đồ HS lập dàn ý cho đề văn dùng): Giới thiệu đặc sản quên 2/ Thuyết minh về một loài vật (loài cây, em con vật). 3/ Thuyết minh về một phương pháp (cách làm). 4/ Thuyết minh về danh lam thắng cảnh. 5/ Thuyết minh về con người. II/ Thực hành: Đề: Giới thiệu đặc sản quên em HS nêu cụ thể kiến thức Thân bài: cần thuyết minh ở từng HS thảo luận và Giới thiệu về các kèo (kinh nghiệm, phần nêu dàn ý cơ bảo quản) bản Cách làm khô các kèo Các món ngon từ khô.. GV hướng dẫn HS thực Giá thành hành viết đoạn văn Ý nghĩa “Cá nổi như mù u rụng” là câu nói truyền Đã có sự đúc rút kinh miệng nhau của người dân miền sông nghiệm của rất nhiều người nước vào mùa mưa về con cá kèo, mùa ăn từ trước đến nay, cá kèo cá kèo sinh trưởng hơn bao giờ hết. được côi là một vị thuốc vì Không lặn sâu dưới nước như những loài thân con cá kèo có chứa cá khác, cá kèo sỡ hữu riêng cho mình loại enzim đặc biệt giúp kiểu bơi vô cùng ấn tượng, thân dựng đứng đầu nổi hơn mặt nước, cùng họ với quá trình tiêu hóa tốt hơn. cá thòi lòi. Vận dụng và lập Hơn nữa nó còn giúp cho Cá kèo thịt khá mềm, ngọt rất dễ chế dàn ý những người có lưng đau biến nhiều món ăn đậm đà: lẩu cá kèo trứ giảm đau nhanh chóng. danh chắc ai cũng biết, cháo cá, cá nướng Đây là một trong những ống tre, cá kèo kho tiêu, cá nướng muối yếu tố làm cho con cá kèo ớt, kho râm, cuốn bánh tráng hay chiên ngày càng nổi tiếng trên thị xù đều cực hấp dẫn. Người sành ăn còn trường. có món khô cá kèo nướng chấm mắm me. Từ con cá kèo khô, chúng ta có thể chế biến thành món nhậu ngon đó chính là nướng con cá kèo khô trên than hồng, cá sẽ chín vàng thơm. Nước chấm cá kèo khô thường là mắm me ăn kèm với rau răm sẽ cực ngon và thơm. Muốn có mẻ khô ngon, không chỉ phơi là đủ mà còn trải qua giai đoạn khá tỉ mỉ. Mang cá về, phải rửa sạch, cho vào nước muối, vớt ngay và để ráo, tiếp đến xếp trên giá tre hoặc lưới mành độ một nắng cho cá thật dốt. Phơi qua ba nắng, khô sẽ đạt chất lượng tốt nhất. Trong đó, nắng đợt đầu là quan trọng nhất, được thì giá cao, ngược lại khô coi như bỏ đi. Phun một lớp rượu đế bằng bình phun sương lên khô trước khi phơi lại để tránh gắt dầu cho khô vì da cá thuộc dạng nhiều chất béo. Tuy không sang trọng như những món ăn khác nhưng khô cá kèo đã làm nên vị riêng khó nhầm lẫn. Lấy vài con, nướng lên ăn với cơm hay cháo trắng quả là cảm nhận được cả hồn Việt, sẽ rất ý nghĩa nếu như biếu tặng người quen ngoại quốc không thể về quê đón Tết cổ truyền. Khô bảo quản được sáu tháng với nhiệt độ thường, trong tủ lạnh khô sẽ giữ được lâu hơn. 4. Củng cố: 3p Đọc văn bản tham khảo 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới:2p Tập tìm ý, lập dàn ý cho một đề bài cụ thể. IV. Rút kinh nghiệm: “Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam...”. Đó là một đoạn trong bài hát rất hay và tràn đầy xúc cảm mà nhạc sĩ Thuận Yến đã viết và kính dâng lên Người. Có thể nói, trong suốt quãng đời thơ ấu cho đến lúc truởng thành, sự hòa nhập giữa những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị đạo đức mới, đã đúc kết nên tư tuởng đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho quan niệm và tư tưởng đạo đức của Người luôn gần gũi, dễ hiểu đối với nhân dân. Những người lao động vốn vất vả tìm kế mưu sinh đã đến với Người vì Người đã thấu hiểu được tất cả ước mơ, khát vọng bình dị của họ. Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất của Hồ Chí Minh. Bác yêu thương con người không phân biệt miền xuôi hay miền ngược, già hay trẻ, gái hay trai, hễ là người Việt Nam yêu nước đều có chỗ trong trái tim và tấm lòng nhân ái của Người. Nhưng trước hết Bác dành tình yêu cho những người cùng khổ, những người bị áp bức, bóc lột. Bởi lẽ, hơn ai hết, Người đã chịu đựng và chứng kiến những nỗi đau đẫm máu và nước mắt của những người đi phu, những nhà yêu nước bị tàn sát, khủng bố. Người đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, cho áo ấm, cơm no của mọi người nhưng riêng mình thì sống vô cùng giản dị và thanh đạm, bởi vì lẽ sống của Người là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Người luôn đặt mình trong cùng nỗi đau khổ của nhân loại. Trái tim Người đập cùng nhịp đập với nhân dân. Người mong muốn những gì dân tộc ta mong muốn. Tấm lòng của Người được thể hiện bằng những câu nói chân thành nhất và những hành động cụ thể, thiết thực nhất. Suốt đời Người chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là hòa bình, độc lập cho nhân dân, cơm ăn áo mặc cho mọi người. Năm 1946, khi tham dự cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”, Bác đã cởi ngay chiếc áo len đang mặc để gửi cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bác dành cả tiền lương tháng, tiền nhuận bút, cả quần áo, khăn mặt để tặng cho các chiến sĩ và gia đình thương binh, liệt sĩ. Khi biết con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác đã gửi đến ông bức thư. Trong thư có đoạn: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi mất một đoạn ruột”. Đọc xong thư Bác, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bàng hoàng xúc động vì không dám nghĩ rằng, giữa lúc Bác Hồ bận trăm nghìn việc quốc gia đại sự, ngay cả họ hàng thân thuộc cũng không có thì giờ thăm hỏi. Thế mà Bác vẫn nghĩ đến ông - một gia đình bé nhỏ đang có tang đau lòng. Bởi lẽ, Bác đã từng nói: mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau khổ ấy lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tấm lòng của Bác thật quảng đại, bao la! Ngày nay, theo bước chân Người, trên đất nước ta đâu đâu cũng có những tấm lòng, những hành động thiết thực thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Làm được như vậy, Bác cũng thấy vui lòng. Năm 1961, khi Bác về thăm lại Pắc Bó - chiến khu xưa, mặc dù đã là Chủ Tịch nước nhưng việc gì Bác cũng tự làm, ai cũng thương, cũng giúp. Bác tắm cho trẻ, chữa ghẻ, chốc cho các cháu. Đứa nào cũng được Bác cho quà và trò chuyện thân mật như ông với cháu. Bọn trẻ đứa nào cũng thích dù đó chỉ là những gói kẹo nhỏ. Hầu như tết Trung thu nào Bác cũng gửi quà và viết thư chúc Tết Trung thu cho các cháu thiếu niên nhi đồng với những tình cảm yêu mến thiết tha: Trung thu trăng sáng như gương Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng. Trong những buổi gặp gỡ với các cháu tại phủ Chủ tịch, Bác luôn muốn bồng bế các cháu nhỏ, ôm hôn tất cả. Có người chiến sĩ từng bảo vệ Bác, kể lại trong niềm xúc động: có cán bộ cứ nghĩ rằng đạo đức cách mạng chỉ để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác, thấy ngay cả lúc ăn cơm, Bác cũng dạy ta thế nào là đạo đức cách mạng. Mỗi khi có món gì ngon là Bác chia sẻ cho người này, người kia cùng ăn. Cầm chén cơm, đôi lúc Bác như tư lự về điều gì đó. Bác yên lòng sao được khi miền Nam phải ăn cơm giữa mưa bom, bão đạn, ở đâu đó, các cụ già, em nhỏ đói rách, lang thang, các chiến sĩ dầm mưa chịu đói rét để kịp giờ hành quân. Ngay cả lúc bệnh tình của Người ngày một xấu đi, Bác vẫn luôn trăn trở, thăm hỏi tình hình chiến sự ở miền Nam, bởi lẽ, miền Nam ruột thịt luôn ở trong trái tim Người. Tuy nhiên, ở Bác, chỉ có tình yêu thương con người là chưa đủ mà nó phải gắn liền với thái độ tôn trọng con người, biết cách nâng đỡ, giáo dục con người, rộng lượng, khoan dung, đồng thời phải biết nghiêm khắc với bản thân. Đối với những cán bộ, đảng viên có lỗi, Bao giờ Người cũng mong muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm. Người dạy rằng: mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân để đẩy lùi phần ác chứ không phải đập cho tơi bời. Tấm lòng nhân ái bao la của Bác luôn khoan dung cho tất cả mọi người. Nhờ vậy, Bác đã tập hợp được cả dân tộc, cả những thành phần trước đây đối lập với Người trong cuộc cách mạng giành độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tinh thần đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại, Bác đã cảm hóa được những người ở bên kia chiến tuyến, những phạm nhân trong lao tù. Năm 1946, Bác tới trại giam Hỏa Lò để thăm hỏi, khuyên bảo những phạm nhân ở đây. Bác ân cần ngồi bên họ, khuyên bảo họ, nghe họ phân trần, và Người đã rưng rưng nước mắt. Trong bức thư gửi cho người Pháp, Bác nói: than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau. Tất cả những điều đó đã thể hiện một nhân cách lớn: nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Hồ Chí Minh - Người là vầng thái dương rạng ngời, ấm áp! Ngày nay, trong thời đại kinh tế thị trường, chúng ta đang từng bước hội nhập với thế giới, có nhiều luồng văn hóa độc hại du nhập vào nước ta. Trong đó, thanh thiếu niên là lớp người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước đang trong tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, xa rời quần chúng nhân dân, cơ hội, tham nhũng, thu vén cho bản thân mình mà quên mất mình là “đày tớ phục vụ nhân dân” như lời Bác đã dạy. Cuộc vận động tìm hiểu và học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã và đang có một tác động sâu rộng với mọi tầng lớp nhân dân. Đó là một trong những giải pháp nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi những thực trạng trên. Song song đó, việc rèn luyện, củng cố và phát triển đạo đức cách mạng của mỗi người phải là việc làm thường xuyên và liên tục. Riêng bản thân tôi, một người làm việc trong ngành văn hóa thông tin, những câu chuyện viết về Người thật sự là những tài liệu vô cùng quý giá. Chúng tôi là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến công chúng. Vì thế, hơn ai hết, chúng tôi phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức mà nhất là phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có như thế, chúng tôi mới đủ bản lĩnh, năng lực, và cảm thấy mình xứng đáng là những tuyên truyền viên, thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước. Đề bài: Em hãy viết bài văn thuyết minh về chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân ta. Bài làm của một bạn học sinh lớp 8 trường THPT chuyên Hùng Vương. Hồ Chủ tịch là lãnh tụ cách mạng vô sản kiệt xuất, một chiến sĩ cộng sản lão thành, Danh nhân văn hóa của thế giới. Với dân tộc Việt Nam, Người là Cha, là Bác, là Anh, Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ (Tố Hữu). Đất nước ta, dân tộc ta tự hào về Hồ Chủ tịch – con người giản dị và vĩ đại – tiêu biểu cho truyền thống bốn ngàn năm lịch sử vẻ vang. Đầu thế kỉ XX, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành thấu hiểu nỗi nhục nô lệ dưới ách xâm lược của thực dân Pháp nên đã noi gương các sĩ phu tiền bối như Phạn Bội Châu, Phan Chu Trinh tìm đường cứu nước. Rời bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) năm 1911, Nguyễn Tất Thành nung nấu ý chí là phải sang tận nước Pháp để tìm hiểu kẻ thù, từ đó có cách chống lại chúng. Ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, người chiến sĩ cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc đã cống hiến rất nhiều cho phong trào đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của các dân tộc thuộc địa bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới và trở thành người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam. Năm 1941, với vốn sống thực tế, với kinh nghiệm dày dặn và trình độ hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ, dân tộc ta vùng lên phá tan xiềng xích của chế độ phong kiến suy tàn và ách nô lệ của thực dân Pháp cùng phát xít Nhật, giành lại chủ quyền độc lập, tự do. Ngày 2-9- 1945, người chiến sĩ cộng sản lão thành Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Chủ tịch Hồ Chí Minh.) Suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ sáng suốt lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân trường kì kháng chiến và đã kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Nhân dân miền Bắc sau giải phóng phấn khởi bắt tay vào xây dựng đất nước và sát cánh cùng đồng bào miền Nam tiếp tục đấu tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng trí tuệ siêu việt, bằng tấm gương suốt đời phấn đấu, hi sinh vì dân vì nước, đã đoàn kết toàn Đảng, toàn quân, toàn dân chiến đấu đến cùng để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, khẳng định truyền thống bất khuất, anh hùng của dân tộc Việt Nam. Lòng nhân ái của Hồ Chủ tịch thể hiện lí tưởng cao cả là một đời phấn đấu, hi sinh để mưu cầu độc lập tự do cho dân, cho nước: Tự do cho tổ quốc tôi, cơm áo cho đồng bào tôi. Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Tình yêu thương con người của Bác sâu sắc và rộng lớn. Trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, Bác thương em bé mới nửa tuổi đã phải theo mẹ vào chốn lao tù (Cháu bé trong nhà lao Tân Dương – Nhật kí trong tù). Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác thương các cháu nhi đồng phải sống khổ sở vì thiếu thốn, vì bom đạn: Nay vì vận nước gian nan, trẻ em cũng phải lầm than cực lòng. Bác luôn quan tâm và yêu thương các cháu với tình cảm chân thành, ruột thịt: Ai yêu nhi đồng, bằng Bác Hồ Chí Minh Bác thông cảm với người lao động vất vả, cơ cực, lo nỗi lo mất mùa, chia sẻ niềm vui được mùa với nông dân: Nghe nói năm nay trời đại hạn, Mười phân thu hoạch chỉ vài phân Khắp chốn nông dân cười hớn hở, Đồng quê vang dậy tiếng ca vui.. (Nhật kí trong tù). Lòng nhân ái của Bác Hồ bao trùm khắp các tầng lớp nhân dân: Bác sống như trời đất của ta, Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa, Tự do cho mỗi đời nô lệ,. Sữa để em thờ, lụa tặng già. (Bác ơi- Tố Hữu) Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta, Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa, Chỉ biết quên mình cho hết thảy, Như dòng sông chảy nặng phù sa. (Theo chân Bác – Tố Hữu). Bác suốt đời cống hiến, hi sinh vì quyền lợi của đất nước và dân tộc: Nâng niu tất cả chỉ quên mình (Theo chân Bác – Tố Hữu). Bác sống giản dị, thanh bạch, không bao giờ nói về mình. Đức khiêm tốn, sự hài hòa giữa tư tưởng vĩ đại và phong thái tự nhiên, hồn hậu, gắn bó chan hòa với con người và thiên nhiên của Bác đã tạo nên sức thuyết phục lớn lao đối với dân tộc và nhân loại. Hồ Chủ tịch là một nhân cách khiêm tốn, giản dị và vĩ đại. Tài năng và đức độ của Bác rất xứng đáng với những danh hiệu cao quý mà cả nhân loại đã tôn vinh: lãnh tụ cách mạng vô sản xuất sắc, chiến sĩ hòa bình, Danh nhân văn hóa thế giới Đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Bác là kết tinh tinh hoa của bốn ngàn năm lịch sử và thời đại. Bác Hồ là hình ảnh đẹp nhất về một Con Người chân chính. Nhà thơ Thế Lữ sinh năm 1907 mất năm 1989, tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê quán: làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh. Thế Lữ học chữ Nho khi lên 8 tuổi, học chữ Quốc ngữ khi lên 10. Sau khi anh trai mất, ông được quay trở về Hải Phòng ở với mẹ. Ở Hải Phòng, ông học tư với cha của Vũ Đình Quý, người bạn thân đầu tiên của ông. Ít lâu sau, ông xin vào học lớp Đồng ấu của trường Pháp Việt mới mở ở Ngõ Nghè. Năm 1924, ông thi đỗ Sơ học , sau đó ốm một năm. Khi đó, mới 17 tuổi, Thế Lữ đã lập gia đình với Nguyễn Thị Khương, người vợ hơn ông 2 tuổi. Năm 1925, ông vào học Cao đẳng Tiểu học Bonnal ở Hải Phòng, học được 3 năm thì bỏ]. Những năm học Thành chung, ông chịu tác động từ tinh thần yêu nước của giới học sinh, qua báo Việt Nam hồn từ Pháp gửi về, cũng như từ những thầy giáo như Trịnh Đình Rư,Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Hữu Tảo. Năm 1928, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, cùng hoạt động với Nguyễn Văn Linh ở Hải Phòng. TheoNguyễn Đình Thi, thì đến năm 1930, khi Hội Thanh niên chuyển thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Thế Lữ dù tán thành đường lối của Đảng, nhưng do gia đình theo Công giáo nên không thể gia nhập. Năm 1929, ông lên Hà Nội, thi đỗ dự thính vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học cũng chỉ một năm rồi lại bỏ do bất mãn với một giáo sư và giám hiệu của trường[1][8]. Ở trường mỹ thuật, ông chơi thân nhất với những bạn như Nguyễn Đỗ Cung, Trần Bình Lộc; cùng với Vũ Đình Liên, Ngô Bích San, Hoàng Lập Ngôn... tổ chức một salon littéraire, chuyên thảo luận về văn học. Thời gian này, ông bắt đầu viết văn, với những truyện đầu tiên ghi lại những gì ông nghe thấy khi ở Lạng Sơn. Được sự khuyến khích của Vũ Đình Liên, Thế Lữ đã gửi các tác phẩm đầu tay của mình cho Nhà xuất bản Tân Dân, ký thêm bút danh tưởng tượng "Đào Thị Tô cùng viết với Thế Lữ" nhằm thu hút sự chú ý[13]. Hai cuốn Một truyện báo thù ghê gớm vàTiếng hú hồn của mụ Ké sau được Vũ Đình Long khen ngợi và cho in ra, điều này cũng đã khuyến khích Thế Lữ rời bỏ trường Mỹ thuật. Một nguyên nhân khác nữa bởi ông bị lao, tuy nhiên sau đó được chữa khỏi bệnh[14]. Từ bỏ con đường hội họa, Thế Lữ bước hẳn sang hoạt động sáng tác văn chương. Thuở nhỏ, Thế Lữ học ở Hải Phòng. Năm 1929, học xong bậc Thành chung, ông vào học Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu tham gia Tự lực văn đoàn và là một trong những cây bút chủ lực của báo Phong hoá, Ngày nay. Năm 1937, ông bắt đầu hoạt động sân khấu, làm diễn viên, đạo diễn, lưu diễn tại các tỉnh miền Trung... và có hoài bão xây dựng nền sân khâu dân tộc. Cách mạng tháng Tám, ông hào hứng chào đón cách mạng, và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến. Thế Lữ lập gia đình khi mới 17 tuổi với người vợ đầu tên thật Nguyễn Thị Khương, hơn ông hai tuổi. Hai vợ chồng đã có bốn người con, ba trai một gái, đặt tên lần lượt là: Nghi, Tâm, Học, Tùng[80][81]. Năm 1954, vợ và ba người con sau đã di cư vào miền Namvà sau này mãi đến năm 1979 gia đình Thế Lữ mới đoàn tụ. Người con cả tên Nguyễn Đình Nghi (1928-2001), từng tham gia kháng chiến cùng cha, được cha trực tiếp truyền nghề sân khấu. Nguyễn Đình Nghi ở lại miền Bắc, về sau trở thành một đạo diễn sân khấu nổi tiếng và được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân năm 1988. Con dâu cả của Thế Lữ, vợ của Nguyễn Đình Nghi - nghệ sĩ ưu tú Mỹ Dung cũng là một diễn viên kịch nói của Nhà hát Kịch Việt Nam. Người vợ thứ hai của Thế Lữ, Song Kim (1913-2008), tên thật Phạm Thị Nghĩa, kết hôn với ông vào cuối năm 1938. Bà say mê sân khấu từ bé, tình cờ làm quen với Thế Lữ và được ông mời đóng vai đầu tiên trong vở Gái không chồng (Đoàn Phú Tứ)[43][83]. Trở thành người bạn đời của Thế Lữ, bà đã gắn bó với ông trong nhiều thập niên sau đó. Sự nghiệp của Song Kim cũng gắn với hoạt động sân khấu của Thế Lữ, được Thế Lữ dìu dắt, bà đã đóng nhiều vai trong các vở kịch do Thế Lữ đạo diễn. Song Kim là một trong những diễn viên tiêu biểu của sân khấu kịch nói Việt Nam thời kỳ đầu, và cùng với Thế Lữ được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân ngay trong đợt đầu tiên. TheoNguyễn Khoa Điềm, những đồng nghiệp của Song Kim - Thế Lữ đã gọi hai vợ chồng bà là "hai thỏi vàng hiếm hoi, quý giá" Tác giả đã xuất bản: Mấy vần thơ (thơ, 1935); Vàng và máu (truyện, 1934); Bên đường Thiên lôi (truyện, 1936),... Ngoài ra Thế Lữ viết nhiều kịch bản: Cụ Đạo sư ông (kịch, 1946); Đoàn biệt động (1947); Đợi chờ (1949); Tin chiến thắng Nghĩa Lộ (1952); Thế Lữ cũng là dịch giả của nhiều vở kịch của sếch-xpia, Gơ-tơ, Sin-le và Pô-gô-đin,... Thế Lữ là một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Bài Nhớ rừng đă gắn liền với tên tuổi của ông. Nói đến Thế Lữ không thể không nói đến Nhớ rừng. Sự xuất hiện của phong trào Thơ mới những năm đầu thế kỉ XX đã tạo ra sự bùng nổ mãnh liệt, một cuộc cách mạng thật sự trong địa hạt văn chương, nhất là thơ. Những thể thơ cũ (tiêu biểu từ thơ Đường luật) với khuôn khổ cứng nhắc, niêm luật gò bó đã không dung chứa nổi, không còn phù hợp với những tư tưởng, cảm xúc dào dạt, mới mẻ, lúc nào cũng chỉ chực tung phá. Đổi mới thể thơ, đổi mới hình thức câu thơ, các nhà thơ mới đồng thời đưa vào đó những dòng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ, tựa như những dòng nham thạnh bỏng đang tuôn chảy tràn trề. Nhớ rừng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho trào lưu mới này. Nhiều sáng tác thơ của Thế Lữ cũng về đề tài tình yêu. Tình yêu trong thơ Thế Lữ thường thiên về thanh cao, mộng ảo, chứ không say đắm yêu đương hay buông tuồng như các bài thơ mới sau này
Tài liệu đính kèm: