Chuyên đề Tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học Ngữ văn 6

docx 8 trang Người đăng Bình Đài Ngày đăng 01/12/2025 Lượt xem 4Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề Tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học Ngữ văn 6", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Chuyên đề
 TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 6
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Hiện nay, tình trạng học sinh lười, chán học trở nên phổ biến nhất là đối với 
các môn xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng. Trong giờ học, các em luôn 
có những biểu hiện tiêu cực như: ít phát biểu, khả năng đọc bài yếu kém, khả năng 
diễn đạt trong quá trình làm bài lủng củng, thiếu mạch lạc và hành văn không mang 
tính văn chương, thậm chí còn có một số em khi thực hành viết bài thường qua loa, 
bố cục chưa hoàn chỉnh,...Từ đó, các em có tâm lý chán nản, không còn hứng thú 
trong giờ học. Đây là một vấn đề hết sức nan giải, gây khó khăn rất lớn đối với giáo 
viên dạy bộ môn Ngữ văn. Chính vì thế, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “ Tạo hứng 
thú cho học sinh trong dạy học Ngữ văn 6” giúp học sinh say mê học tập, từ đó cải 
thiện và nâng cao chất lượng học tập hơn.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
 Trước đây, phương pháp dạy học truyền thống thường thiên về truyền thụ, 
học ghi nhớ nhiều, gây áp lực đối với người học. Từ đó tạo ra tâm lí sợ học tiết văn, 
sợ học thuộc bài. 
 Với phương pháp dạy học thường áp dụng trước đây, học sinh luôn thụ động, 
quen nghe, quen chép, ghi nhớ rồi sẽ tái hiện một cách máy móc những gì giáo viên 
truyền đạt. Điều này phần nào đã làm giảm khả năng sáng tạo, tư duy của người 
học, biến người học thành những người quen diễn đạt bằng những ý thuộc lòng, 
bằng những lời có sẵn của thầy cô, sách vở. Do đó, học sinh luôn lệ thuộc vào sách 
vở, học sinh không hào hứng, chủ động, thiếu sáng tạo và thiếu tự tin. 
 Những trăn trở làm sao học sinh của mình luôn yêu thích môn Ngữ văn; làm 
thế nào để chất lượng học tập môn Ngữ văn được nâng cao và điều quan trọng là 
làm sao để người học luôn chủ động tích cực, say mê, tự tin trong học tập; biết vận 
dụng kiến thức vào thực tế; chủ động khám phá, phát hiện những cái hay, cái đẹp, 
các giá trị tác phẩm văn chương; bồi dưỡng tình yêu đối với văn học, bồi dưỡng 
tâm hồn, giá trị nhân văn luôn là điều trăn trở mà tôi tin rằng không chỉ bản thân 
tôi mà có lẽ là của tất cả những thầy cô, đồng nghiệp luôn quan tâm.
Trong năm học 2022- 2023, tôi được phân công giảng dạy 3 lớp 6B, 6C, 6C. Trong 
quá trình dạy tôi đã khảo sát số liệu học sinh yêu thích, hứng thú với môn học Ngữ 
văn như sau:
 Số học sinh hứng Số học sinh không 
 Lớp Sĩ số thú hứng thú
 Năm học Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
 2022-2023 6B 44 14 31.82% 30 68.18 %
 6C 40 12 30 % 28 70 % 6D 44 12 27.27% 24 72.73%
 Xuất phát từ thực trạng ấy, từ thực tế giảng dạy của bản thân, qua trao đổi 
học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp, mong 
góp phần nào sẽ cải thiện được thực trạng dạy và học Ngữ văn hiện nay, cải thiện 
được quan điểm tình cảm, ý thức học tâp của học sinh đối với môn Ngữ văn, đặc 
biệt là đối với học sinh lớp 6.
 III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy Văn đổi mới đã chú trọng phát triển 
hứng thú học tập của học sinh. Một trong những mục đích của giờ Văn là làm sao 
gây được rung động thẩm mĩ, giáo dục nhân cách cho học sinh. Từ thực tế giảng 
dạy bộ môn Ngữ văn lớp 6 tôi nhận thấy, muốn giờ dạy đạt hiệu quả cao, ngoài 
việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng mình cần phải biết gây hứng thú học tập cho 
học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh động; học sinh tiếp thu kiến thức một 
cách tự nhiên, không gượng ép. Từ đó mới phát huy thực sự tính chủ động, tích 
cực, sáng tạo của học sinh. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy tôi đã áp dụng một số 
biện pháp thiết thực nhằm giúp học sinh say mê, hứng thú trong giờ học Ngữ văn 
như sau:
a. Tạo tâm thế học tập cho học sinh.
 - Trước hết là tác động đến tình cảm của học sinh: Để học sinh luôn chủ 
động, tích cực, tự giác đặc biệt có hứng thú với môn học, trước hết giáo viên phải 
truyền dạy tri thức bằng cả trái tim và lòng tâm huyết của mình. Thực sự quan tâm 
đến học sinh, tạo ra không khí học tập thân thiết, gần gũi. Từ đó tạo được niềm tin 
với các em. Theo quy luật lây lan tình cảm, từ chỗ yêu quý, trân trọng thầy cô đến 
thích học môn do thầy cô dạy.
 - Tiếp theo là xây dựng không khí lớp học: Học tập căng thẳng thường làm 
cho học sinh mệt mỏi. Do đó chúng ta cần tổ chức giờ học một cách sinh động mới 
kích thích hứng thú học tập của học sinh. Để tạo hứng thú trong một tiết học của 
học sinh thì lời dẫn vào bài cũng rất là quan trọng. Lời vào bài hấp dẫn là khâu gợi 
tâm lí, tạo ngay một tâm thế hứng thú tìm hiểu bài mới của học sinh. Do đó phần 
khởi động đóng vai trò không nhỏ.
 Ví dụ: Khi dạy bài " Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương" có thể 
dẫn vào bài bằng cách hỏi học sinh: Em đã đi du lịch nơi nào chưa? Nơi đó có nét 
đẹp văn hóa nào? Sau đó cho học sinh xem một số tranh ảnh về những vùng đất của 
Tổ quốc.. Giáo viên có thể tạo không khí lớp học bằng các chuyện vui, các câu thơ, bài hát 
hay hình thức đố vui, đóng kịch, xem mẫu vật, tranh ảnh có liên quan đến nội dung 
bài học...
 Ví dụ: GV có thể vào bài bằng cách cho các em nhìn hình đoán tên các 
truyện cổ tích để vào bài.
b. Linh hoạt, đa dạng trong phương pháp dạy học.
 - Linh hoạt trong phương pháp: Giáo viên luôn vận dụng kết hợp nhiều 
phương pháp, kĩ thuật và các hình thức tổ chức dạy học, tạo nên sự phong phú đa 
dạng trong các hoạt động của quá trình dạy học sẽ làm cho học sinh cảm thấy thoải 
mái, không bị ức chế về mặt tâm lí bởi sự nhàm chán, mệt mỏi vì sự đơn điệu tẻ 
nhạt. 
 Ví dụ như trong tiết " Thực hành tiếng Việt" ngoài phương pháp gợi mở vấn 
đáp thì giáo viên có thể cho học sinh thảo luận nhóm ghi vào phiếu học tập và trình 
bày để cả lớp theo dõi. Lớp học sẽ sinh động và học sinh hứng thú học tập hơn. Từ 
đó, ta thấy rằng các học sinh sẽ tiếp thu kiến thức tốt hơn nếu trong giờ học có sự 
xen kẽ nhau giữa các hoạt động dạy học.
 - Đưa ra các tình huống có vấn đề: Dạy học theo tình huống là giáo viên 
không trình bày đơn thuần nội dung bài học mà sắp xếp sao cho toàn bộ bài giảng là vấn đề lớn được chia thành một số vấn đề nhỏ có liên quan chặt chẽ với nhau, rồi 
kích thích hứng thú cho học sinh và khéo léo đưa các học sinh vào những tình 
huống có vấn đề. Từ đó bắt đầu những phần của bài giảng. Và như thế, hứng thú sẽ 
được duy trì đến khi nào tìm ra được câu trả lời.
 Ví dụ: Khi dạy bài "Thánh Gióng" có thể đặt câu hỏi bình thường như: "Sự 
ra đời của Gióng có gì kì lạ ?" nhưng để tạo sự tò mò, động não và phát huy được 
tính chủ động của học sinh giáo viên có thể đặt câu hỏi đưa ra tình huống có vấn 
đề: "Đối với những người bình thường, đưa trẻ chỉ ở trong bụng mẹ 9 tháng 10 
ngày, nhưng ở đây sự ra đời của Gióng có gì kì lạ?...
 - Vẽ sơ đồ hệ thống hóa kiến thức và sơ đồ tư duy: Trong dạy học sơ đồ hệ 
thống hóa kiến thức đã có từ rất lâu. Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển, các 
phần mềm vẽ, sơ đồ tư duy ra đời đáp ứng kịp thời cho việc giảng dạy. Sơ đồ hệ 
thống hóa kiến thức có vai trò hết sức to lớn trong quá trình tổ chức dạy học. Nó 
giúp học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu sâu kiến thức, vận dụng sáng tạo, 
linh hoạt, chủ động các kiến thức đã học từ đó nâng cao hiệu quả học tập môn học.
Ví dụ : Khi dạy bài ”Nói và nghe: Kể lại một truyện cố tích”có thể vẽ sơ đồ:
 Bước 1:
 Chuẩn bị
 Kể lại 
 một truyện Bước 2:
 cổ tích Thực hành
 Bước 3:
 NX, rút kinh nghiệm
 Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý 
tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề..bằng 
cách kết hợp sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết...Đặc biệt đây là một 
sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người. Việc ghi chép 
thông thường theo từng hàng chữ khiến chúng ta khó hình dung tổng thể vấn đề, 
dẫn đến hiện tượng đọc sót ý, nhầm ý. Sơ đồ tư duy tập trung rèn luyện cách xác 
định chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ý phụ một cách logic.
 Ví dụ: Trong giờ học, thay vì tổng kết bằng việc xem, đọc lại bài, chúng ta 
có thể phân nhóm cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy hay cây tư duy: Cây tư duy áp dụng cho các tiết học văn bản cổ tích, truyền thuyết
c. Liên hệ với thực tế.
 Việc gắn nội dung bài giảng với thực tế cuộc sống là một trong những biện 
pháp gây hứng thú học tập môn Ngữ văn. Bởi lẽ, nếu chỉ sa đà với những lí thuyết 
khô khan mà xa rời thực tế thì bài học sẽ thiếu tính thực tiễn, mất đi tính thuyết 
phục và sự lôi cuốn, không kích thích được hứng thú học tập của học sinh. Ngữ văn 
là môn học đặc thù, phản ánh thực tế cuộc sống qua lăng kính của tác giả về những 
hoàn cảnh, tính cách, số phận xuất phát từ ngoài đời sống. Nhiều kỹ năng, kiến 
thức các em học sẽ được vận dụng vào rất nhiều tình huống của cuộc sống. Vì vậy, 
gắn dạy học với thực tế cuộc sống không những có tính chất bắt buộc trong dạy học 
Ngữ văn mà còn rất cần thiết để gây hứng thú học tập cho học sinh.
 Ví dụ: Khi dạy bài " Bài học đường đời đầu tiên" cần liên hệ thực tế và giáo 
dục học sinh cách sống khiêm tốn, biết quan tâm, giúp đỡ người khác, khi làm việc 
phải biết suy nghĩ, khi làm sai phải biết nhận lỗi và sửa lỗi. 
d. Ứng dụng công nghệ thông tin.
 Ngày nay khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công 
nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu, trong đó có lĩnh vực giáo 
dục. Trong lĩnh vực này, công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ, các trường 
đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập và xem công nghệ thông tin như là một công 
cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học , trong đó 
có cả môn Ngữ văn.
 Khi dạy học bộ môn Ngữ văn, giáo viên cần tích cực ứng dụng công nghệ 
thông tin, phát huy khả năng hỗ trợ của phương tiện, công nghệ vào các bài giảng: 
lồng ghép những đoạn phim, những tranh ảnh, những khúc ngâm, bài thơ được phổ 
nhạc vào quá trình giảng dạy, không những tạo không khí hứng thú học tập, mà 
đó là một kênh thông tin hữu hình, trực quan để học sinh nhận biết, hiểu bài sâu 
sắc.
 Ví dụ: Khi dạy mảng truyện cổ tích Việt Nam, giáo viên có thể chiếu các 
video Cổ tích Việt Nam hoặc Thế giới cổ tích cho học sinh xem.
e. Lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn. Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo 
dục.Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với phương pháp 
dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay. Giải pháp 
này sẽ thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho 
người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn 
trong đề xuất của mình, phát huy tư duy sáng tạo. Hứng thú và chủ động trong học 
tập là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triển 
nhân cách ở học sinh qua bộ môn Ngữ văn.
 Giáo viên cần chú ý đến đặc thù của từng phân môn; lưu ý mối quan hệ giữa 
trò chơi và hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lý, đúng mức và đúng lúc để 
không xáo trộn nhiều không gian lớp học, nhanh chóng ổn định lớp học khi trò chơi 
kết thúc; trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt, không vận dụng cho 
tất cả các tiết học; trò chơi bao giờ cũng kết thúc bằng thưởng cho người (đội) 
thắng. Từ đó, tạo nên sự hứng thú. Giáo viên có thể tự sáng tạo ra những trò chơi 
phù hợp với tiết học theo nguyên tắc vừa phù hợp, vừa kích thích sự tò mò của các 
em. 
Ví dụ: Khi dạy bài Thánh Gióng GV có thể áp dụng trò chơi ”Rung chuông vàng”
Khi dạy bài ” Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương” GV có thể áp dụng trò 
chơi Sóc nhặt hạt dẻ: 
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
 Sau ba tháng áp dụng đề tài này, khảo sát thấy số học sinh yêu thích và có 
hứng thú với môn học như sau:
 Số học sinh Số học sinh 
 Lớp Sĩ số hứng thú không hứng thú
 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
 Năm học 6B 44 30 68.18% 14 31.82 %
 2022- 2023
 6C 40 28 70% 12 30 %
 6D 44 25 56.82% 19 43.18 %
Qua kết quả trên, tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh yêu thích và hứng thú với môn học đạt 
kết quả khả quan hơn. 
V. KẾT LUẬN.
 Trước tình hình học sinh chưa ham thích nhiều về môn Ngữ văn, việc gây 
hứng thú trong giờ Ngữ văn là rất quan trọng. 
 Nhiệm vụ của giáo viên dạy Văn là phải tạo sự hứng thú, phải khiến cho 
những từ ngữ khô khan biết nhảy múa, biết vẽ ra những khung cảnh bình yên, lúc 
dữ dội, phải đi vào tâm hồn các em những tình cảm yêu, ghét, nhớ nhung, mơ 
mộng, phải mở ra những cánh cửa tâm hồn của chính các em. Để làm được điều đó 
và đạt được kết quả như mong đợi cần có thời gian. Song vẫn cần sự nỗ lực, động 
viên, khích lệ của giáo viên là chính.
 Việc gây hứng thú trong giờ dạy Ngữ văn bước đầu tuy còn nhiều khó khăn, 
cả giáo viên và học sinh đều phải làm việc tích cực, thời gian chuẩn bị bài nhiều 
hơn, học sinh phải hoạt động nhiều hơn trong giờ học sẽ có những thiếu sót, vấp 
váp khi học sinh phải đi từ cách truyền thống: nghe giảng, ghi chép sang cách học 
tích cực: phát biểu ý kiến, tham gia thảo luận, tham gia các trò chơi...nhưng so với 
mục đích và nhiệm vụ của đề tài đặt ra, về cơ bản đề tài cũng đã giải quyết được 
một số nhiệm vụ sau:
 - Bước đầu xác định được các hướng tiếp cận bài học: Nội dung - kết quả.
 - Góp phần xây dựng hệ thống lí luận về hứng thú học tập.
 - Xây dựng tìm hiểu và vận dụng được một số biện pháp gây hứng thú học 
tập môn Ngữ văn cho người học.
 Đó là những kinh nghiệm của cá nhân, những vấn đề của đề tài đặt ra cũng 
mới chỉ là bước khởi đầu có tính định hướng, gợi ý. Tôi mong rằng, những kinh 
nghiệm này góp phần giúp người học có được sự hứng thú trong việc học tập môn 
Ngữ văn nói chung và Ngữ văn 6 nói riêng. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng 
học tập bộ môn và hơn nữa là góp phần “đánh thức” tình yêu của người học đối với 
môn Ngữ văn. Chọn đề tài "Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Ngữ văn 6" bản 
thân tôi đã thu nhận được những kết quả khả quan song vẫn không tránh khỏi sự 
thiếu sót. Vì vậy, bản thân rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy (cô) đồng 
nghiệp để đề tài này được hoàn chỉnh hơn.
 Tân Phong, ngày 01 tháng 11 năm 2022
 Người viết
 Trần Bích Liễu
* Ưu điểm:
- Phản ánh đúng thực trạng, tâm lí học sinh lớp 6 khi học Ngữ văn.
- Đề ra các biện pháp đa dạng.
- Học sinh có tiến bộ trong học tập.
* Hạn chế:
- Một số biện pháp khó thực hiện đối với đối tượng học sinh yếu kém: Ví dụ: Vẽ 
cây tư duy hay sơ đồ tư duy.
- Ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng trò chơi: ít thực hiện được do trang 
thiết bị của trường còn hạn chế.

Tài liệu đính kèm:

  • docxchuyen_de_tao_hung_thu_cho_hoc_sinh_trong_day_hoc_ngu_van_6.docx