1 BÁO CÁO BIỆN PHÁP Sử dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực trong hoạt động nhóm nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh trong môn Lịch sử và Địa lí 6 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Sinh thời, trong tác phẩm “ Lịch sử nước ta” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “ Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam’’ Để khẳng định vai trò quan trọng của việc giáo dục lịch sử cho nhân dân và đặc biệt là cho thế hệ trẻ. Trong nhà trường phổ thông, môn Lịch sử là một trong những bộ môn có tầm quan trọng và có tính giáo dục rất lớn, nó cung cấp cho học sinh một bức tranh sinh động về lịch sử loài người và lịch sử dân tộc. Tuy vậy, hiện nay chất lượng giảng dạy môn Lịch sử trong trường phổ thông còn nhiều hạn chế: nhiều học sinh không thích học môn Lịch sử, coi như môn học của các sự kiện, năm tháng, môn học của trí nhớ, khô khan, nhàm chán Trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử, đa số ở các bài học nội dung truyền đạt cho học sinh chỉ là những kênh chữ, một vài bài có cung cấp thêm hình ảnh; đa số giáo viên chỉ chú trọng về nội dung kiến thức trong sách giáo khoa mà chưa chú ý sử dụng những hình thức khác để bổ trợ làm cho tiết học thêm sinh động, chưa hoặc rất ít sử dụng những phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh hướng đến phát triển năng lực và phẩm chất cho người học là yếu tố nền tảng để tạo nên nhân cách của con người. Như vậy cốt lõi của của việc đổi mới phương pháp dạy học đối với môn Lịch sử là phải khuyến khích học sinh học tập tích cực, tự khám phá kiến thức và giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận trên cơ sở hướng dẫn, tổ chức của giáo viên; phải hướng tới tăng cường sự tương tác, phối hợp giữa người dạy với người học và giữa người học với nhau, coi trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có của người học và tăng cường sử dụng phương tiện, kỹ thuật dạy học hiện đại, đặc biệt là ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào dạy học lịch sử. Trong những năm gần đây, GDPT nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận phẩm chất, năng lực người học, từ chỗ quan tâm đến việc HS học được những gì đến chỗ quan tâm đến việc 2 HS làm được những gì qua việc học. Năm học 2021-2022 là năm học đầu tiên trong cả nước thực hiện chương trình GDPT 2018 đối với học sinh lớp 6 THCS; điểm nổi bật trong mục tiêu chương trình GDPT 2018 đó là không đặt nặng về việc dạy nội dung, cung cấp kiến thức mà chú trọng phát huy về phẩm chất và năng lực của học sinh với những năng lực chung (tự chủ, tự học; giao tiếp, hợp tác; giải quyết vấn đề, sáng tạo) và năng lực đặp thù (tìm hiểu lịch sử, nhận thức và tư duy lịch sử, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học ) và các phẩm chất cần có (yêu nước, trung thực, chăm chỉ, nhân ái, trách nhiệm). Để làm được điều này, phương pháp dạy học cần phải có sự đổi mới: GV cần phải lựa chọn nhiều phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học phù hợp để HS chủ động tham gia hoạt động, có cơ hội để bày tỏ ý kiến, tham gia trao đổi, tranh luận, phản biện Để các hoạt động học tập của HS được tích cực hóa, tôi thường hay sử dụng 1 số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực như: Kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật 5W1H, kỹ thuật sơ đồ tư duy, kỹ thuật trò chơi . vào trong các tiết dạy lịch sử góp phần vào việc đổi mới trong dạy học và kiểm tra đánh giá. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học Lịch sử tại trường THCS thị trấn Nham Biền số 2 1. Ưu điểm: 1.1. Đối với giáo viên: Ở trường THCS thị trấn Nham Biền số 2, đội ngũ giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp dạy học như: sử dụng đồ dùng trực quan, phương pháp giải quyết vấn đề, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm nhân vật kết hợp và khai thác triệt để các đồ dùng và phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, mô hình, ứng dụng công nghệ thông tin vấn đề dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh đã được tất cả giáo viên quan tâm và mạnh dạn áp dụng. Trong thời gian vừa qua, giáo viên của Nhà trường đã và đang được tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn về chương trình giáo dục phổ thông 2018 qua các Modul Bộ GD&ĐT triển khai phần nào đã giúp GV hiểu được tổng quát chương trình GDPT 2018, mục tiêu và bước đầu biết sử dụng những phương pháp và kỹ 3 thuật dạy học để đạt được mục tiêu về năng lực và phẩm chất cần có trong mỗi bài học. 1.2. Đối với học sinh: Đa số học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi giáo viên đặt ra, một số em có chuẩn bị bài mới ở nhà, tham gia tích cực trong việc thảo luận nhóm và đã đạt hiệu quả trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Học sinh yếu, kém đã và đang nắm bắt kiến thức trọng tâm cơ bản thông qua các hoạt động như thảo luận nhóm, đọc sách giáo khoa, vấn đáp các em bước đầu đã mạnh dạn trả lời các câu hỏi, ghi nhớ các sự kiện, nhân vật...trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình. 2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 2.1. Hạn chế 2.1.1. Đối với giáo viên: Giáo viên chưa thực sự đầu tư cho giờ dạy (chuẩn bị giáo án chưa chu đáo, phương tiện trợ giảng chưa đầy đủ, chưa sử dụng các phương pháp, kỹ thuật tích cực hoặc đã bước đầu sử dụng nhưng chưa phù hợp...) nên bài dạy chưa sinh động, sôi nổi; chưa tạo hứng thú cho học sinh, chưa lôi cuốn các em vào tiết học, mà chủ yếu là những câu hỏi “khô khan” mang tính trừu tượng hóa cao nên phần lớn các em bắt đầu và kết thúc tiết học trong trạng thái hờ hững, hời hợt. Một số giáo viên chưa thực hiểu đúng, rõ bản chất của các kỹ thuật dạy học hoặc khi sử dụng còn lúng túng, sử dụng chưa hợp lí với nội dung của bài học hoặc chưa phù hợp với đối tượng học sinh nên hiệu quả của việc sử dụng các kỹ thuật dạy học chưa cao, tiết học chưa thu hút được sự tham gia của các học sinh trong lớp. Một số ít giáo viên chưa tích cực hóa hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các học sinh chiếm lĩnh kiến thức, để học sinh được tham gia vào các hoạt động mà vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học “thầy nói, trò nghe’, “thầy đọc, trò chép”; GV chủ yếu cho HS hoạt động cá nhân mà chưa chú trọng vào việc sử dụng các kỹ thuật dạy học trong các hoạt động nhóm. Do đó, nhiều học sinh chưa nắm kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc. Kĩ năng ứng dụng và sử dụng CNTT của giáo viên còn hạn chế; giáo viên chưa biết cách để thiết kế và tổ chức, sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực hoặc 4 có sử dụng nhưng không thành thạo, chưa sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động dạy học mà chỉ áp dụng 1 cách máy móc, chưa phù hợp với đối tượng học sinh. 2.1.2. Đối với học sinh: Ở trường THCS thị trấn Nham Biền số 2 đại đa số học sinh chưa có nhận thức đúng về tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử, với tâm lý đây là môn học thuộc với các sự kiện dài dòng, khô khan nên các em chưa có sự đầu tư vào môn học. Học sinh luôn có tư tưởng coi Lịch sử là môn phụ nên không cần thiết, thậm chí có nhiều em chán ghét môn học, sợ phải đến tiết Lịch sử; các em chưa chú trọng vào việc chuẩn bị bài học ở nhà, chưa có thói quen tìm hiểu nội dung của bài mới, nên khi thực hiện các hoạt động trên lớp các em chưa chủ động hoặc cảm thấy mặc cảm, tự ti về bản thân nên hầu hết các em sẽ không tham gia vào các hoạt động học đặc biệt là các hoạt động nhóm mà thường ỷ lại một số bạn học sinh Khá - Giỏi trong lớp. Vì vậy, tiết học diễn ra “buồn tẻ”, một chiều; học sinh chưa hình thành và phát huy được những năng lực và phẩm chất cần đạt. 2.2. Nguyên nhân của hạn chế: Việc đổi mới phương pháp dạy học chưa nhiều, chưa sâu; nhiều giáo viên chưa thực sự đổi mới, chưa biết sử dụng các phương pháp, kỹ thuật tích cực vào trong bài học hoặc có sử dụng nhưng chưa đa dạng, hiệu quả chưa cao, chưa sinh động để lôi cuốn các em vào các hoạt động, tạo không khí lớp học sôi nổi, mà chủ yếu là đặt những câu hỏi “khô khan” mang tính trừu tượng hóa cao nhằm khai thác nội dung bài học nên chưa tạo ra hứng thú cho học sinh, hiệu quả của việc tổ chức các hoạt động dạy học chưa cao; dẫn đến chất lượng giảng dạy của bộ môn còn thấp. Đa số học sinh chưa có nhận thức đúng về tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử, với tâm lý đây là môn học thuộc, là môn phụ nên không cần thiết, thậm chí có nhiều em chán ghét môn học. Vì vậy, tiết học diễn ra “buồn tẻ”, một chiều, học sinh chưa hình thành và phát huy được những năng lực và phẩm chất cần đạt. Đối với học sinh lớp 6, các em đều trong độ tuổi thiếu niên là học sinh đầu cấp, các em chưa quen với phương pháp và cách học ở trường THCS, ở lứa tuổi này đa số các em đều thích “chơi” hơn thích “học” và thường nhanh chán nản, thiếu tính kiên trì, chưa ham học hỏi nếu bài học có nhiều đơn vị kiến thức; kĩ năng nói, trình bày và tham gia các hoạt động của HS theo yêu cầu của GV là rất hạn chế. 5 II. Biện Pháp, cách thức thực hiện: Xuất phát từ thực trạng trên, trong quá trình dạy học tôi sử dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực trong hoạt động nhóm nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh. Từ đó nâng cao chất lượng của giờ dạy, chất lượng của bộ môn. Có rất nhiều kỹ thuật dạy học có thể sử dụng trong hoạt động thảo luận nhóm nhưng trong khuôn khổ của báo cáo báo cáo biện pháp, tôi xin đưa ra một số biện pháp được bản thân thường xuyên sử dụng trong các tiết học Lịch sử trong thời gian qua. 1. Biện pháp 1: Sử dụng kỹ thuật “Khăn trải bàn” 1.1 Khái niệm: Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS, phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS. 1.2: Cách tiến hành: Hoạt động theo nhóm 4-6 người/ nhóm (có thể nhiều người hơn). Mỗi học sinh sẽ viết vào ô mang số của mình hoặc mảnh giấy ghi nhớ câu trả lời hoặc ý kiến của mình (về chủ đề...). Mỗi cá nhân làm việc độc lập sau đó các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời và viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0). Kỹ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi. Sau khi các nhóm hoàn thành nhiệm vụ; HS gắn các sản phẩm lên bảng hoặc xung quanh lớp học (kỹ thuật phòng tranh); đại diện các nhóm trình bày sản phẩm và HS nhóm khác nhận xét, trao đổi, phản biện. 6 1.3: Ví dụ: Tìm hiểu những thành tựu văn hóa chủ yếu của người Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại. (Mục 3- Bài 7 Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại) * Mục tiêu: HS nêu, nhận xét được những thành tựu văn hoá chủ yếu của Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại và hiểu được giá trị của các thành tựu đó với cả ngày nay * Phương thức thực hiện: -GV yêu cầu HS quan sát H1, H2, H4, H5, H6, H7 và tư liệu SGK (hoặc chiếu video); HS hoạt động nhóm, kỹ thuật khăn trải bàn, thời gian 6 phút, hoàn thành bảng phụ với nội dung sau: (Khuyến khích HS có thể trình bày sản phẩm dưới nhiều hình thức như sơ đồ tư duy, áp phích ) - HS hoạt động cá nhân, ghi nội dung ra giấy ghi nhớ hoặc ghi vào các góc của bảng phụ, thời gian 2 phút. - HS trao đổi, thảo luận và thống nhất nội dung vào phần giữa của bảng phụ, thời gian 4 phút. H4. Kĩ thuật ướp xác 7 Yêu Cầu Sản phẩm Giới thiệu và nhận xét những thành tựu văn hóa chủ yếu của Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại (Chữ viết, toán học, lịch, y học và kiến trúc) * Sản phẩm: Ai Cập Lưỡng Hà Chữ viết Chữ tượng hình Chữ hình nêm (hình góc) Toán học Biết làm các phép tính theo Theo hệ đếm 60, tính được diện hệ đếm thập phân. tích các hình Lịch Một năm có 360 ngày, chia Chia 1 năm thành 12 tháng, mỗi làm 12 tháng, một tháng có tháng có 29 hoặc 30 ngày 30 ngày Y học Kỹ thuật ướp xác Kiến trúc Kim tự tháp và tượng Nhân Vườn treo Ba-bi-lon sư => Đây là những thành tựu văn hóa rất quan trọng, đóng góp to lớn đối với nền văn minh nhân loại. 2. Biện pháp 2: Sử dụng kỹ thuật “5W1H” 2.1: Khái niệm: 8 Kỹ thuật 5W1H là sáu từ dùng để hỏi trong tiếng Anh: What (Cái gì) Where (Ở đâu), When (Khi nào), Who (Ai), Why (Tại sao), How (Thế nào). Kỹ thuật này thường được dùng cho các trường hợp khi cần có thêm ý tưởng mới hoặc xem xét nhiều khía cạnh của vấn đề, chọn lựa ý tưởng để phát triển, có thể sử dụng trong hoạt động thảo luận nhóm. 2.2: Cách tiến hành: - Giáo viên có thể sử dụng Sơ đồ 5W1H theo nhiều cách khác nhau: + Sử dụng Sơ đồ 5W1H để khai thác trực tiếp nội dung bài học ở trên lớp. + Dùng Sơ đồ 5W1H để minh họa cho nội dung. + Sử dụng Sơ đồ 5W1H với mục đích củng cố kiến thức. - Có thể tóm tắt một số bước dạy học trên lớp với Sơ đồ 5W1H: Bước 1: Học sinh lập Sơ đồ 5W1H theo gợi ý của giáo viên. Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ 5W1H mà nhóm mình đã thiết lập. Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung để hoàn thành Sơ đồ 5W1H về kiến thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học. Bước 4: Củng cố kiến thức bằng một Sơ đồ 5W1H mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc một Sơ đồ 5W1H mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó. 2.3: Ví dụ: Tìm hiểu về Nhà Tần thống nhất và xác lập chế độ phong kiến ở Trung Quốc (Mục 2- Bài 9 Trung Quốc từ thời cổ đại đến thế kỉ VII) 9 * Mục tiêu: Mô tả được sơ lược quá trình thống nhất lãnh thổ và sự xác lập chế độ phong kiến ở Trung Quốc dưới thời Tần Thuỷ Hoàng. * Phương thức thực hiện: GV yêu cầu HS quan sát H2,3 và tư liệu (tr.40-41) để hoàn thành PHT số 2; HS thảo luận nhóm, kỹ thuật 5W1H, thời gian 5 phút Câu hỏi: - Ai là người đã thống nhất Trung Quốc? - Thời gian thống nhất Trung Quốc khi nào? Ở đâu? - Tại sao cần phải thống nhất Trung Quốc? - Quá trình thống nhất Trung Quốc diễn ra như thế nào? - Việc thống nhất Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng có ý nghĩa gì? * Sản phẩm: 3. Biện pháp 3: Sử dụng kỹ thuật “Sơ đồ tư duy”: 10 3.1. Khái niệm: Là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. 3.2. Cách tiến hành: Sơ đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bảng trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính. Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề. Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA. Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh. Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường. Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo. Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như: tóm tắt, ôn tập, trình bày tổng quan một chủ đề, một nội dung bài học 3.3. Ví dụ: Tìm hiểu về nhà nước đầu tiên của người Việt cổ (Mục 1- Bài 14 Nhà nước Văn Lang-Âu lạc) * Mục tiêu: - Nêu được khoảng thời gian thành lập và xác định được phạm vi không gian của nước Văn Lang; ý nghĩa sự ra đời của nhà nước Văn Lang. - Trình bày được tổ chức nhà nước của Văn Lang. * Phương thức thực hiện: - GV yêu cầu HS quan sát H2, H3 và tư liệu SGK, thực hiện hoạt động thảo luận nhóm, kỹ thuật sơ đồ tư duy, thời gian 7 phút, hoàn thành nội dung về sự ra đời nhà nước đầu tiên của người Việt cổ. 11 H2. Lược đồ khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ - H3. Sơ đồ tổ chức Nhà nước Văn Lang xưa kia là địa bàn chủ yếu của nước Văn Lang- Âu Lạc *Sản phẩm: 4. Biện pháp 4: Sử dụng kỹ thuật “Các mảnh ghép” 4.1. Khái niệm: Kỹ thuật các mảnh ghép là cách thức tổ chức hoạt động học tập hợp tác trong đó HS sẽ hoàn thành một nhiệm vụ phức hợp qua hai vòng. Đầu tiên HS sẽ hoạt động theo nhóm để giải quyết các nhiệm vụ thành phần sao cho mỗi cá nhân trở thành 1 chuyên gia của vấn đề được giao. Sau đó, chuyên gia thuộc các vấn đề 12 khác nhau sẽ kết hợp trong nhóm mới, chia sẻ vấn đề đã tìm hiểu để cùng giải quyết nhiệm vụ phức hợp ban đầu. 4.2. Cách tiến hành: - Vòng 1: Nhóm chuyên gia + Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ cụ thể. + Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình. + Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2. - Vòng 2: Nhóm các mảnh ghép + Hình thành nhóm mảnh ghép, sao cho các nhóm đều có tối thiểu một thành viên đến từ mỗi nhóm chuyên gia. + Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau + Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết, các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả. 4.3. Ví dụ: Tìm hiểu về đời sống vật chất, tinh thần của người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam (Mục 2-Bài 5- Xã hội nguyên thủy) * Mục tiêu: Mô tả và nhận xét được đời sống vật chất và tinh thần của người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam. 13 * Phương thức thực hiện: - GV sẽ đánh số hoặc dán thứ tự của các HS mỗi nhóm; HS của mỗi nhóm phải nhớ được số thứ tự của mình. Vòng 1: Chuyên gia: GV chia lớp thành 2 hoặc 4 nhóm tùy theo số lượng HS của lớp; nêu nhiệm vụ cho các nhóm, thời gian thực hiện 3 phút Nhóm Nhiệm vụ 1,2 Đọc tư kiệu Sgk và quan sát H3,4 trang 21-22 để tìm hiểu về đời sống vật chất của người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam. 3,4 Đọc tư kiệu Sgk quan sát H5,6 trang 23 để tìm hiểu về đời sống tinh thần của người nguyên thủy trên đất nước Việt nam. H4: LĐ di chỉ thời đồ đá và đồ đồng ở Việt Nam Cảnh đi săn H5: Hình mặt người khắc trên vách hang Đồng Nội (Hòa Bình) 14 Vòng 2: Mảnh ghép Hình thành 4 nhóm mới, có thể đặt tên cho các nhóm mới như (Phùng Nguyên, Núi Đọ, Hòa Bình, Lung Leng) và yêu cầu HS có số thứ tự từ 1-2 của mỗi nhóm di chuyển đến nhóm Phùng Nguyên; HS có số thứ tự từ 3-4 di chuyển vào nhóm Núi Đọ; HS có số thứ tự từ 5-6 di chuyển vào nhóm Hòa Bình, HS có số thứ tự còn lại di chuyển đến nhóm Lung Leng) HS thực hiện nhiệm vụ: mỗi nhóm hoàn thành vào bảng phụ (hoặc sơ đồ tư duy ) 3 nội dung sau: Yêu cầu Sản phẩm Đời sống vật chất Đời sống tinh thần Nhân xét Lưu ý: Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu, được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới này phải gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1) * Sản phẩm: Yêu cầu Sản phẩm Đời sống vật chất - Sống chủ yếu trong các hang động, mái đá hoặc các túp lều lớp bằng cỏ khô hay lá cây - Biết mài đá, tạo ra nhiều loại công cụ khác nhau (rìu, bôn, chày ) và vũ khí (mũi tên, mũi lao) - Bước đầu biết trồng trọt và chăn nuôi - Biết làm đồ gốm với hoa văn trang trí phong phú. Đời sống tinh thần - Biết làm đàn đá, vòng tay bằng đá và vỏ ốc, làm chuỗi hạt bằng đất nung, biết vẽ tranh trên vách hang... - Đời sống tâm linh: chôn theo người chết cả công cụ và đồ trang sức... Nhận xét - Đời sống vật chất, tinh thần khá phong phú và độc đáo. 15 PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Qua các tiết dạy học lịch sử tôi đã áp dụng thường xuyên các kỹ thuật dạy học khác nhau trong hoạt động thảo luận nhóm thì nhận thấy rằng về căn bản học sinh đã có sự thay đổi từ nhận thức, và bắt đầu có thái độ thích thú, hào hứng đối với tiết học, các đối tượng học sinh khác nhau cũng chủ động và hăng say học, tìm hiểu kiến thức lịch sử hơn. HS tích cực thực hiện nhiệm vụ được giao và hỗ trợ bạn trong hoạt động nhóm; trình bày được ý kiến, sản phẩm của nhóm, đánh giá các sản phẩm của các bạn trong nhóm hoặc của nhóm khác; có thái độ hợp tác, chia sẽ, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động nhóm; biết phân tích, tóm tắt những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đồng thời thông qua từng bài học cụ thể để phát triển các phẩm chất như yêu nước (HS biết yêu thiên nhiên, yêu các di sản văn hóa trên thế giới cũng như ở Việt Nam qua đó, càng thêm tự hào và bảo vệ thiên nhiên, di sản văn hóa, con người); phẩm chất trách nhiệm (ý thức được bản thân phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ thiên nhiên, di sản văn hóa và con người cũng như có tinh thần trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động thảo luận nhóm); phẩm chất chăm chỉ (có cố gắng vươn lên trong quá trình học tập, có tinh thần tự học); phẩm chất trung thực (có tính chính xác, trung thực trong quá trình thảo luận nhóm, trong việc đánh giá các sản phẩm của các nhóm khác cũng như trong cuộc sống); phẩm chất nhân ái (yêu thương, giúp đỡ bạn bè, mọi người, yêu thiên nhiên, sẵn sàng học tập, giúp đỡ các thành viên trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ) .đáp ứng được chương trình GDPT 2018 hiện nay. Với việc sử dụng 1 cách đa dạng các kỹ thuật dạy học tích cực trong hoạt động thảo luận nhóm bước đầu hình thành cho các em tư duy lô-gic khi học môn Lịch sử. Khi giáo viên yêu cầu trả lời một vấn đề nào đó, các em sẽ được định hướng bởi các câu hỏi tương ứng với các nội dung được hỏi. Tiết học đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều so với cách dạy truyền thống là đọc chép hoặc một tiết dạy chỉ sử dụng bằng bài giảng điện tử cho học sinh nhìn chép. Đồng thời bước đầu đã khắc phục được tình trạng “học vẹt”, học trước quên sau của học sinh vì HS được trực tiếp tham gia các hoạt động, tự khai thác và làm chủ kiến thức của bài học. Trong quá trình hoạt động nhóm tất cả các thành viên trong nhóm đều phải động não, sáng tạo, chủ động tìm hiểu kiến thức theo yêu cầu của GV mà không ỉ lại 1 số bạn có học lực khá giỏi như trước đây, ý thức tự học của HS được nâng cao hơn, và hơn thế là qua việc sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực đã từng 16 bước giúp các em có cái nhìn “thiện cảm” với môn Lịch sử, yêu thích và “tự giác” học môn Lịch sử hơn. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng học môn Lịch sử và Địa lí lớp 6 tại trường THCS thị trấn Nham Biền số 2. Để có cơ sở đánh giá hiệu quả biện pháp được đề xuất, sau một thời gian giảng dạy, tôi đã tiến hành kiểm chứng về thái độ và mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh lớp 6A1 thông qua phiếu thăm dò học sinh và bảng kết quả đối chiếu điểm kiểm tra đầu năm với điểm kiểm tra cuối học kì II năm học 2021- 2022. KẾT QUẢ PHIẾU THĂM DÒ HỌC SINH Đồng Phân Không TT Tiêu chí ý vân đồng ý Giáo viên sử dụng 1 số kỹ thuật dạy học 1 trong hoạt động thảo luận nhóm tạo không 36/40 4 0 khí lớp học sôi nổi Khi được giao nhiệm vụ trong các hoạt động 2 35/40 3 2 thảo luận nhóm, em rất thích thú và hào hứng Em có tham gia tích cực, đóng góp ý kiến vào 3 36/40 1 3 các sản phẩm của nhóm Sử dụng kỹ thuật dạy học vào dạy học lịch sử 4 giúp học sinh dễ hiểu và nhớ kiến thức lâu 37/40 2 1 hơn. Em thích (mong muốn) giáo viên sử dụng các 5 kỹ thuật dạy học trong hoạt động thảo luận 36/40 4 0 nhóm vào các tiết học lịch sử Việc sử dụng các kỹ thuật dạy học trong hoạt 6 động nhóm vào tiết dạy học lịch sử là rất cần 38/40 2 0 thiết và có giá trị. Khi tham gia hoạt động thảo luận nhóm, em 7 38/40 2 0 có thấy mình mạnh dạn, tự tin hơn Khi tham gia hoạt động thảo luận nhóm, em 8 37/40 3 0 có trách nhiệm và trung thực Như vậy, qua kết quả phiếu điều tra ta dễ dàng thấy được sự khác biệt của việc sử dụng các kỹ thuật dạy học vào hoạt động thảo luận nhóm trong bài dạy, 17 90% học sinh cho rằng sử dụng các kỹ thuật dạy học vào hoạt động thảo luận nhóm trong dạy học lịch sử có tác dụng thu hút sự chú ý của học, tạo không khí lớp học sôi nổi, giúp HS dễ hiểu và nhớ kiến thức; có 87,5% HS cho rằng khi được giao nhiệm vụ trong các hoạt động thảo luận nhóm, các em rất thích thú và hào hứng; 90% HS tham gia tích cực, đóng góp ý kiến vào các sản phẩm của nhóm; 92,5% HS cho rằng việc sử dụng kỹ thuật dạy học vào dạy học lịch sử giúp các em dễ hiểu và nhớ kiến thức lâu hơn; 90% HS thích (mong muốn) giáo viên sử dụng các kỹ thuật dạy học trong hoạt động thảo luận nhóm vào các tiết học lịch sử; 95% HS cảm nhận khi tham gia hoạt động thảo luận nhóm, em có thấy mình mạnh dạn, tự tin, có tinh thần, trách nhiệm hơn trong quá trình thực hiện thảo luận nhóm. Sau khi chấm bài theo thang điểm đã quy định, xếp loại học sinh theo các mức độ đã quy định (Tốt, Khá, Đạt, Không đạt), tôi đã phân tích và thấy được sự chuyển biến theo hướng tích cực về học lực của học sinh qua điểm kiểm tra đầu năm học với điểm kiểm tra cuối học kì II. Điều này được thể hiện qua bảng thống kê sau: Điểm kết quả thực nghiệm Số Điểm tốt Điểm khá Điểm đạt Không đạt Lớp 6A1 HS (8 – 10) (6.5 < 8) (5<6.5) (0 < 5) HS % HS % HS % HS % Trước khi thực hiện biện pháp 5 12,5 11 27,5 17 42,5 7 17,5 (Kiểm tra đầu năm học) Sau khi thực hiện 40 biện pháp (Kiểm 11 28,2 19 48,7 9 23,1 0 0 tra cuối học kì II) Qua bảng số liệu trên cho thấy: Sau khi thực hiện biện pháp thì chất lượng học tập của HS được nâng cao hơn thể hiện qua số liệu: tỉ lệ HS đạt điểm tốt chiếm 28,2 % (trước khi thực hiện là 12,5 %); tỉ lệ HS có điểm khá chiếm 48,7% (trước khi thực hiện là 27,5%); tỉ lệ HS có điểm đạt và không đạt đã giảm so với trước khi thực hiện biện pháp. 18 Từ kết quả trên cho thấy chất lượng học tập ở lớp 6A1 sau khi thực hiện biện pháp cao hơn so với thời điểm trước khi thực hiện biện pháp, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động thảo luận nhóm; HS được trao đổi, tranh luận, phản biện không khí lớp học sôi động, HS được thể hiện các năng lực của bản thân, mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài. Ngoài ra, biện pháp góp phần quan trọng trong việc thay đổi nhận thức, suy nghĩ, thái độ của các em học sinh như: Đối với học sinh có học lực khá-giỏi: các em tích cực, hứng thú, hào hứng tham gia và thực hiện theo các yêu cầu của GV, giúp đỡ các bạn khác để cùng tham gia đạt hiệu quả góp phần vào việc hình thành và phát triển các năng lực như: giao tiếp-hợp tác, giải quyết vấn đề, tự chủ và một số các phẩm chất như trách nhiệm, chăm chỉ, trung thực, yêu nước Đối với học sinh có học lực đạt và không đạt: các em không còn rụt rè, tự ti mà bước đầu đã chủ động tham gia và mạnh dạn xung phong trả lời các câu hỏi; cùng với các bạn có học lực khá – tốt thực hiện các hoạt động theo yêu cầu của giáo viên trong các hoạt động thảo luận nhóm, không còn ỷ lại vào những bạn khá- tốt trong nhóm. Qua quá trình thực nghiệm, bước đầu khẳng định tính khả thi của biện pháp. Khi được áp dụng thực hiện thường xuyên không những phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh mà còn góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử ở trường THCS thị trấn Nham Biền số 2. Chính vì vậy trong năm học 2022 – 2023 tôi tiếp tục áp dụng biện pháp trên vào quá trình giảng dạy. Lớp học diễn ra buồn tẻ, một chiều (Khi chưa áp dụng biện pháp) 19 Một số hình ảnh minh họa về việc sử dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực trong hoạt động thảo luận nhóm Với việc sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực trong hoạt động thảo luận nhóm đã góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, tạo nên sự thoải mái, môi trường thân thiện giữa giáo viên và học sinh. Từ đó, tạo được hứng thú học cho các em, chính vì vậy mà không khí học tập cũng sôi nổi hơn, hiệu quả hơn. Đó thực sự là kết quả bất ngờ. Đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm không có nghĩa là chúng ta phó mặc cho các em tự chiếm lĩnh tri thức. Ngược lại giáo viên đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học sao cho phù hợp với đối tượng HS. Việc sử dụng các kỹ thuật dạy học trong dạy học lịch sử đòi hỏi giáo viên không những phải có vốn kiến thức, trau dồi và bồi dưỡng về chuyên môn để tiếp cận những phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực; đồng thời, giáo viên phải nắm vững và có kĩ năng sử dụng thành thạo một số phần mềm cơ bản, cần biết sử dụng các kỹ thuật dạy học phù hợp thời gian của tiết học, khoa học, đúng nội dung bài học, phù hợp với đối tượng HS điều này, đòi hỏi giáo viên phải luôn luôn tìm tòi, sáng tạo, chuẩn bị công 20 phu đồng thời phải luôn động viên, khuyến khích học sinh kịp thời và có phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp, tăng cường sự tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS khác trong nhóm, trong lớp. PHẦN D. CAM KẾT Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; các biện pháp đã được triển khai thực hiện và minh chứng về sự tiến bộ của học sinh là trung thực. Nham Biền, Ngày 04 tháng 10 năm 2022 NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO Ngô Thị Lương
Tài liệu đính kèm: