PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN DŨNG TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN NHAM BIỀN SỐ 1 BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ NĂM 2024 Tên sáng kiến: “Xây dựng một số công cụ kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực trong dạy học môn Ngữ văn 6” Tác giả sáng kiến: Trần Thị Chinh Chức vụ công tác: Giáo viên - Tổ trưởng tổ KHXH Đơn vị Chủ sở hữu sáng kiến: Trường THCS thị trấn Nham Biền số 1 Địa điểm sáng kiến được thực hiện: Trường THCS TT Nham Biền số 1 Thời gian thực hiện sáng kiến: Từ tháng 10/ 2023 đến tháng 04/ 2024 Yên Dũng, tháng 04 năm 2024 BM-SK02 Trang 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Xây dựng một số công cụ kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực trong dạy học môn Ngữ văn 6 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: tháng 09 năm 2023 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không có 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Trong bối cảnh ngành giáo dục đang tiến hành đổi mới một cách căn bản toàn diện như hiện nay, yêu cầu đặt ra với mỗi giáo viên cần phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong mỗi giờ học. Song song với đó là công tác đổi mới kiểm tra đánh giá. Nhưng hiểu thế nào cho đúng và vận dụng thế nào cho đạt hiệu quả vẫn là một bài toán khó, làm băn khoăn, trăn trở cho không ít thầy cô giáo dạy Ngữ văn. Qua thực tế giảng dạy và dự giờ các đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy nhiều thầy cô áp dụng các kĩ thuật và công cụ kiểm tra đánh giá thiên về phát hiện chi tiết nhiều hơn là những câu hỏi có tính gợi mở, nêu lên vấn đề cho học sinh thảo luận. Chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khoá học nhằm mục đích xếp hạng, phân loại; đánh giá một hoạt động độc lập với quá trình dạy; chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng; kiểm tra đánh giá bằng hình thức làm bài trên giấy Hạn chế của phương pháp này là: + Chưa đảm bảo phương pháp kiểm tra, đánh giá theo năng lực; + Hệ thống câu hỏi chung chung khiến học sinh lúng túng trong quá trình triển khai hoặc chỉ thiên về những câu hỏi phát hiện, không kích thích được năng lực tư duy của học sinh; + Việc chia nhóm cho học sinh thảo luận nhưng không chọn lọc đưa ra được các tình huống có vấn đề để học sinh trao đổi, tranh luận. Điểm yếu nhất của kiểm tra đánh giá giáo hiện nay là chưa xác định rõ triết lý đánh giá: đánh giá để làm gì, tại sao phải đánh giá, đánh giá nhằm thúc BM-SK02 Trang 2 đẩy, hình thành khả năng gì ở học sinh?... Đánh giá trước hết phải vì sự tiến bộ của học sinh, giúp học sinh nhận ra mình đang ở đâu trên con đường đạt đến mục tiêu bài học/ năng lực, phẩm chất gì? Đánh giá không làm học sinh lo sợ, bị thương tổn, mất tự tin. Đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, giúp học sinh liên tục được phản hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở điểm nào để cả giáo viên và học sinh cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đánh giá phải tạo ra sự phát triển, phải nâng cao năng lực của người học, tức là giúp các em hình thành khả năng tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau để phát triển năng lực tự học. Hiện nay rất nhiều giáo viên, các cán bộ quản lý giáo dục chưa thấu hiểu triết lý đánh giá, chủ yếu mới chỉ tập trung vào đánh giá kết quả học tập, để xếp loại học sinh Giáo viên cũng gặp rất nhiều khó khăn khi phải đánh giá các hoạt động giáo dục (không biết đánh giá các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đánh giá đạo đức, giá trị sống, kỹ năng sống như thế nào ). Nếu đánh giá chỉ là kiểm tra sự học thuộc bài (ghi nhớ), làm lại theo các kiểu, dạng bài mẫu thầy đã cho sẽ triệt tiêu sự phát triển, sự nỗ lực vươn lên ở người học. Điểm yếu khác trong đánh giá học sinh hiện tại là đánh giá (chấm điểm) mà không có sự phản hồi cho học sinh. Cô chấm bài kiểm tra, thường chỉ cho điểm hoặc chỉ phê “sai”, “làm lại” hay chỉ viết ký hiệu sai hay ký hiệu đúng chứ chưa giải thích được rõ cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào. Một số GV chấm bài có sự phản hồi nhưng phản hồi không đủ, phản hồi tiêu cực, không mang tính xây dựng (Ví dụ, GV phê: làm sai, làm ẩu, không hiểu làm học sinh mất niềm tin, không có động lực để sửa lỗi), làm cho người học chán nản Khi phản hồi của GV đối với bài làm của HS mang sắc thái xúc cảm âm tính, tiêu cực, có thể làm học sinh xấu hổ, mất tự tin. Bên cạnh đó, nếu GV có phản hồi chung (chữa bài kiểm tra trên lớp) lại thường đưa ra lời giải đúng theo cách tư duy “áp đặt” của GV, mà không giúp phân tích mổ sẻ những cách tư duy chưa phù hợp của học sinh dẫn đến sự sai sót. Đánh giá lại khuôn vào một số kiểu loại bài toán, dạng bài văn, không nhằm bộc lộ năng lực suy nghĩ, sự trải nghiệm đa dạng, phong phú của người học, tức tập trung vào một số kiểu đề thi và chỉ để đáp ứng các kỳ thi, điều này làm cho quá trình dạy học bị bóp méo chỉ để phục vụ mục đích thi cử, nên mới xảy ra hiện tượng mọi học sinh “muốn thi đỗ phải đến lớp luyện thi” nhưng thi xong chẳng còn nhớ gì hết. Một trong những điểm yếu nữa là hiện nay, giáo viên sử dụng hầu như rất hạn chế các hình thức đánh giá mới, hiện đại, phần lớn những đánh giá GV đang sử dụng có tính truyền 3 thống: dựa vào viết luận, làm các bàì tập như kiểm tra 15 phút, 1 tiết , và thông qua một số câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận mà chính giáo viên cũng không rõ mình định đánh giá kỹ năng hay năng lực gì ở học sinh. Khi giáo viên chưa đa dạng hóa các kiểu đánh giá sẽ làm cho hoạt động học tập trở nên nhàm chán, sẽ khó phát triển các năng lực bậc cao ở người học (như năng lực giải BM-SK02 Trang 3 quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo ). Trong khi đó, yêu cầu của đổi mới kiểm tra đánh giá là phải áp dụng đa dạng các hình thức đánh giá: đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận, vấn đáp đánh giá thông qua sản phẩm, qua hồ sơ học sinh, qua thuyết trình/trình bày, thông qua tương tác nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm , đánh giá bằng các tình huống bài tập, các hình thức tiểu luận, , thì giáo viên chưa làm được vì chưa được đào tạo. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến Muốn đổi mới căn bản toàn diện chương trình, SGK phổ thông theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT, thì “mắt xích” cần phải tập trung, nỗ lực nhiều nhất, đầu tư nhiều thời gian, trí tuệ, tiền bạc nhất chính là khâu đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá học sinh. Trước hết chúng ta phải hiểu kiểm tra đánh là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học bởi đối với người giáo viên, khi tiến hành quá trình dạy học phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kỹ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho hiệu quả. Muốn biết có hiệu quả hay không, người giáo viên phải thu thập thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp dạy, kỹ thuật dạy của mình và giúp học sinh điều chỉnh các phương pháp học. Như vậy, kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể nói kiểm tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học. Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lý . Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp phát triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất nhiều. Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác làm được mình cũng sẽ làm được” Điều này vô cùng quan trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh trong tương lai. Tại sao người ta nói kiểm tra đánh giá rất quan trọng và kiểm tra đánh giá thế nào thì việc dạy học sẽ bị lái theo cái đó. Nếu chúng ta chỉ tập trung đánh giá kết quả như một sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy và học, thì học sinh chỉ tập trung vào những gì GV ôn và tập trung vào những trọng tâm GV nhấn mạnh, thậm chí những dạng bài tập GV cho trước học sinh chỉ việc thay số trong bài toán mẫu, bắt trước câu văn mẫu để đạt được điểm số tối đa theo mong muốn của thầy/cô giáo. Và như vậy, kiểm tra đánh giá đã biến hình không còn theo đúng nghĩa của nó. Bởi khi xây dựng chương trình, người ta cần làm rõ triết lý kiểm tra đánh giá tức là xác định rõ mục tiêu của kiểm tra đánh giá là gì? Kiểm tra đánh giá xem học sinh có đạt mục tiêu học tập, giáo dục, có đạt được kết quả mong đợi theo chuẩn? Và sử dụng kết quả kiểm tra đó để làm gì? Làm BM-SK02 Trang 4 thế nào để GV cải tiến nâng cao chất lượng quá trình dạy và học nếu không có đánh giá phản hồi từ học sinh? 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lý . Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp phát triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất nhiều. Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác làm được mình cũng sẽ làm được”. Việc xây dựng được bộ công cụ kiểm tra đánh giá đáp ứng quan điểm hiện đại về kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh chú trọng đến đánh giá quá trình để phát hiện kịp thời sự tiến bộ của học sinh và vì sự tiến bộ của HS, từ đó điều chỉnh và tự điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học. Ngoài ra, đánh giá kết quả học tập cũng sẽ được thực hiện tại một thời điểm cuối quá trình giáo dục để xác nhận những gì HS đạt được so với chuẩn đầu ra. Vì vậy, với mong muốn dạy học tiếp cận, cập nhật những xu hướng mới trong giáo dục, ứng dụng hiệu quả công cụ kiểm tra trong dạy học môn Ngữ văn nói chung và môn Ngữ văn 6 nói riêng nên tôi đã mạnh dạn lựa chọn giải pháp “Xây dựng một số công cụ kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực trong dạy học môn Ngữ văn 6”. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 7.1.1. Một số vấn đề chung về kiểm tra, đánh giá trong giáo dục *Đo lường Đo lường là việc so sánh một vật hay hiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực, có khả năng trình bày kết quả dưới dạng thông tin định lượng. Nói cách khác, đo lường liên quan đến việc sử dụng các con số vào quá trình lượng hoá các sự kiện, hiện tượng hay thuộc tính. Trong lĩnh vực giáo dục, thước đo trên đây của đo lường thường là tiêu chuẩn hoặc tiêu chí. Tham chiếu theo tiêu chuẩn là đối chiếu kết quả đạt được của người này đối với những người khác. Ứng với loại tham chiếu này là các đề thi chuẩn hoá. Tham chiếu theo tiêu chí là đối chiếu kết quả đạt được của học BM-SK02 Trang 5 sinh với mục tiêu, yêu cầu cần đạt của bài học, hoạt động giáo dục. Ứng với loại tham chiếu này là các câu hỏi, nhiệm vụ học tập, đề thi theo tiêu chí. * Đánh giá Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp và diễn giải thông tin về đối tường cần đánh giá (năng lực, kĩ năng; kế hoạch dạy học ), qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về đối tượng. Đánh giá trong lớp là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tinliên quan đến hoạt động học tập và trải nghiệm của HS nhằm xác định những gì học sinh biết hay chưa biết, hiểu hay chưa hiểu và làm được hay chưa làm được. Từ đó đưa ra quyết định phù hợp tiếp theo trong qua strình giáo dục HS. Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của HS và diễn giải bằng điểm số/ chữ hoặc nhận xét của giáo viên, từ đó biết được mức độ đạt được của HS trong biểu điểm đang được sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá trong nhận xét của GV. *Kiểm tra Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá, do đó nó có ý nghĩa và mục tiêu như đánh giá. Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việc xây dựng công cụ đánh giá, ví dụ như câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra. Các công cụ này được xây dựng trên một căn cứ xác định, chẳng hạn như đường phát triển năng lực hoặc các rubric trình bày các tiêu chí đánh giá. Như vậy, trong giáo dục: - Kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học. - Kiểm tra, đánh giá là công cụhành nghề quan trọng của GV. - Kiểm tra, đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục, quản lý chất lượng dạy và học. *Mục đích, mục tiêu của kiểm tra, đánh giá trong giáo dục Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục có mục đích chung là cung ấp thông tin để ra các quyết đinh về dạy học và giáo dục. Có ba cấp độ đối tượng sử dụng các thông tin này: Cấp độ trực tiếp dạy và học; Cấp độ hỗ trợ hoạt động dạy và học; Cấp độ ra chính sách. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo hướng hình thành năng lực có mục tiêu là đánh giá sự tiến bộ và mức độ năng lực của mỗi cá nhân BM-SK02 Trang 6 được bộc lộ trong quá trình học tập, lấy kết quả đầu ra và các yêu cầu về năng lực của người học tương ứng với từng gia đoạn học tập làm căn cứ đánh giá. Do vậy, cần xác định được các mức độ năng lực để có thể phân hoá chính xác và cụ thể năng lực của người học. Đánh giá dựa theo năng lực chú ý đến các nội dung đánh giá mang tính tổng hợp, gắn với việc giải quyết các tình huống thực tiễn. Trong đánh giá năng lực, cả hai hình thức đánh giá là đánh giáquá trình và đánh giá tổng kết đều cần được coi trọng. Để thực hiện các mục tiêu trên, người ta thường thực hiện theo quy trình sau: - Xây dựng kế hoạch đánh giá (vì sao cần đánh giá? Đánh giá cái gì? Đánh giá như thế nào? Mức độ quan trọng của từng nội dung và mục tiêu học tập cụ thể?) - Lựa chọn hoặc tạo ra các công cụ để đánh giá và thủ tục để cho điểm theo phương pháp đã chọn. - Thử nghiệm công cụ hoặc xem xét lại công cụ đánh giá để đảm bảo tránh được các nguyên nhân làm sai lệch kết quả đánh giá. Ghi nhận mọi vấn đề về công cụ đánh giá, về thủ tục cho điểm và chỉnh sửa nếu cần thiết. - Thực hiện đánh giá. - Xử lí, phân tích kết quả. - Viết báo cáo giải thích kết quả và phản hồi kết quả đánh giá. Đồng thời, mỗi hoạt động đánh giá cần đảm bảo nguyên tắc sau đây: - Mục đích đánh giá phải rõ ràng và phù hợp với hoàn cảnh. - Đánh giá phải xác thực và có ý nghĩa. - Các loại hình đánh giá phải đa dạng và bài tập đánh giá phải phức hợp. - Đánh giá phải đảm bảo độ tin cậy. - Đánh giá phải đảm bảo độ giá trị. 7.1.2. Quan điểm hiện đại về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS a. Đánh giá vì học tập Đánh giá vì học học tập diễn ra thường xuyên trong quá tình dạy học để GV phát hiện sự tiến bộ của HS, từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy học. Việc đánh giá nhằm cung cấp thông tin để GV và người học cải thiện chất lượng dạy học. Kết quả của đánh giá này không nhằm so sánh giữa các học sinh với nhau mà để làm nổi bật những điểm mạnh và điểm yếu của mỗi HS và cung cấp cho HS thông tin phản hồi để tiếp tục việc học của mình ở các giai đoạn học tập tiếp BM-SK02 Trang 7 theo. Với đánh giá này, GV giữ vai trò chủ đạo trong đánh giá kết quả kết quả học tập, nhưng người học cũng được tham gia vào quá trình đánh giá. Người học có thể tự đánh giá được khả năng học tập của mình để điều chỉnh hoạt động học tập được tốt hơn. b. Đánh giá là học tập Đánh giá là học tập diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học (đánh giá quá trình), trong đó, Gv tổ chức để HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, coi đó là một hoạt động học tập để HS thấy được sự tiến bộ của chính mình so với yêu cầu cần đạt của bài/môn học, từ đó HS tự điều chỉnh việc học. Với đánh giá này HS giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đánh giá, HS tự giám sát hoặc theo dõi quá trình học tập của mình, tự so sánh, đánh giá kết quả học tập của mình theo những tiêu chí do Gv cung cấp. Kết qảu đánh giá này không được ghi vào học bạ mà chỉ có vai trò như một nguồn thông tin phản hồi để người học tự ý thưc khả năng học tập của mình đang ở mưc độ nào, từ đó thiết lập mục tiêu học tập cá nhân và lên kế hoạch học tập tiếp theo. c. Đánh giá kết quả học tập Đánh giá kết quả học tập (đánh giá tổng kết hay đánh giá định kì) là đánh giá những gì HS đạt được tại thời điểm cuối một giai đoạn giáo dục và được đối chiếu với chuẩn đầu ra nhằm xác nhận kết quả đó so với với yêu cầu cần đạt của bài học/ môn học/ cấp học. GV là trung tâm trong quá trình đánh giá và người học không được tham gia vào các khâu trong quá trình đánh giá. Có thể tóm tắt những điểm khác biệt cơ bản giữa đánh giá kết quả của việc học, đánh giá kết quả vi việc học và đánh giá kết quả như là việc học qua bảng sau: Tiêu chí so sánh ĐG kết quả học ĐG vì học tập ĐG là học tập tập Mục tiêu đánh Xác nhận kết quả Cung cấp thông Sử dụng kết quả giá học tập của người tin cho các quyết đánh giá để cải học để phân loại, định dạy học tiếp thiện việc học của đưa ra quyết định theo của GV; chính người học. về việc lên lớp cung cấp thông tin hay tốt nghiệp. cho người học nhằm cải thiện thành tích học tập. Căn cứ đánh giá So sánh với chuẩn So sánh với các So sánh với các kiến thức, kĩ năng; chuẩn đánh giá chuẩn đánh giá BM-SK02 Trang 8 so sánh giữa các bên ngoài bên ngoài. người học với nhau. Trọng tâm đánh Kết quả học tập Quá trình học tập Quá trình học tập giá Thời điểm đánh Thường thực hiện Diễn ra trong suốt Trước, trong và su giá cuối quá trình học quá trình học tập. quá trình học tập. tập. Vai trò của GV Chủ đạo Chủ đạo hoặc Hướng dẫn giám sát Vai trò của Đối tượng của Gián sát Chủ đạo người học đánh giá Người sử dụng GV GV, người học Người học kết quả đánh giá 7.1.3. Đánh giá phẩm chất, năng lực So sánh đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức, kĩ năng Tiêu chí so sánh Đánh giá năng lực Đánh giá chuẩn kiến thức, kỹ năng 1. Mục đích đánh giá -Đánh giá khả năng người - Xác định việc đạt chuẩn trọng tâm học vận dụng các kiến thức, kiến thức, kĩ năng theo kỹ năng đã học được vào mục tieu của chương giải quyết vấn đề thực tiễn trình giáo dục. cuộc sống; -Đánh giá, xếp hạng giữa - Vì sự tiến bộ của người những người học với học so với chính mình. nhau. 2. Ngữ cảnh đánh giá -Gắn với ngữ cảnh học tập -Gắn với nội dung học tập và thực tiễn cuộc sống của ( những kiến htức, kỹ người học. năng, thái độ) học được trong nhà trường. 3. Nội dung đánh giá - Những kiến thức, kỹ - Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở nhiều môn năng, thái độ ở một môn học, nhiều hoạt động giáo BM-SK02 Trang 9 dục và những trải nghiệm học cụ thể; của bản thân người học - Quy chuẩn theo việc trong cuộc sống xã hội (tập người đó có đạt hay trung vào năng lực thực không một nội dung đã hiện); học. -Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của người học. 4. Công cụ đánh giá Nhiệm vụ, bài tập gắn với Câu hỏi, bài tập, nhiệm tình huống, bối cảnh thực vụ trong tình huống hàn tiễn. lâm hoặc thực tiễn. 5. Thời điểm đánh Đánh giá ở mọi thời điểm Thường diễn ra ở những giá của quá trình dạy học, chú thời điểm nhất định trong trọng đến đánh giá trong quá trình dạy họ, đặc biệt khi học. là trước và sau khi dạy. 6. Kết quả đánh giá Năng lực người học phụ Năng lực của người học thuộc vào độ khó của phụ thuộc vào số lượng nhiệm vụ hoặc bài tập đã câu hỏi, nhiệm vụ hay bài hoàn thành; tập đã hoàn thành; Thực hiện được nhiệm vụ Càng đạt được nhiều đơn càng khó và phức tạp hơn vị kiến thức, kĩ năng thì thì sẽ được coi là có năng àng được coi là có năng lực cao hơn. lực cao hơn. 7.1.4. Đánh giá kết quả giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực trong dạy học môn Ngữ văn. Đánh giá trong dạy học Ngữ văn cần bám sát các yêu cầu về đổi mới đánh giá nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, nhưng nội dung, phương thức đánh giá cần phù hợp với đặc điểm môn học Ngữ văn nói chung, và đặc điểm môn học ở cấp THCS nói riêng: Đánh giá kết quả phẩm chất và năng lực ở môn ngữ văn cần xuát phát từ các phẩm chất và năng lực của môn học, nhất là các năng lực chuyên môn ( năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học). Năng lực ngôn ngữ là năng lực sử dụng tiếng nói và chữ viết trong giao tiếp, thể hiện ở các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Năng ực văn học là khả năng đọ BM-SK02 Trang 10 văn bản văn học; cảm thụ, phân tích, đánh giá văn học; tư duy hình tượng; xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh, góp phần hoàn thiện nhân cách. 7.1.5. Hình thức kiểm tra, đánh giá * Đánh giá thường xuyên *Đánh giá định kì 7.1.6. Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Hình thức đánh giá Phương pháp đánh giá Công cụ đánh giá Phương pháp hỏi -đáp Câu hỏi ( ) Đánh giá thường Phương pháp quan sát Ghi chép các sự kiện xuyên/ĐG quá trình thường nhật, thang đo, (Đánh giá vì học tập; bảng kiểm. Đánh giá là học tập) Phương pháp đánh giá Bảng quan sát, câu hỏi qua hồ sơ học tập vấn đáp, phiếu đánh giá theo tiêu chí (Rubrics ) Phương pháp đánh giá Bảng kiểm, thang đánh qua sản phẩm học tập giá, phiếu đánh giá theo tiêu chí (Rubrics ) Phương pháp kiểm tra KWLH, câu trả lời ngắn, viết thẻ kiểm tra ĐG định kỳ/ĐG tổng Phương pháp kiểm tra Bài kiểm tra (câu hỏi tự kết (Đánh giá kết quả viết luận, câu hỏi trắc học tập) Phương pháp đánh giá nghiệm), bài luận, phần qua hồ sơ học tập mềm biên soạn đề kiểm tra, bảng kiểm, phiếu Phương pháp đánh giá đánh giá theo tiêu chí, qua sản phẩm học tập thang đo. 7.2. Các giải pháp xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá theo hương phát triển phẩm chất, năng lực HS. Giải pháp 1. Xây dựng công cụ đánh giá: Câu hỏi 1. Khái niệm BM-SK02 Trang 11 Câu hỏi là một trong các công cụ khá phổ biến được dùng trong kiểm tra, đánh giá. Câu hỏi có thể được sử dụng trong kiểm tra miệng, kiểm tra viết dưới dạng: tự luận, trắc nghiệm, bảng hỏi ngắn, thẻ kiểm tra, bảng KWL Câu hỏi vấn đáp Bảng hỏi ngắn Thẻ kiểm tra Bảng KWL 2. Mục đích sử dụng: Với việc sử dụng các dạng câu hỏi khác nhau, GV có thể gợi mở, củng cố, tổng kết, kiểm tra kiến thức, kĩ nằn, thái độ của HS trong qua strình dạy học. Thông qua hỏi – đáp giáo viên co điều kiện tiếp xúc trực tiếp với người học, nhờ đó có thể đánh giá được thái độ của người học, mặc khác, băng những câu hỏi đa dạng, GV không chỉ thu thập được thông tin về hiểu biết của người học theo tiêu chuẩn chung mà còn có thể phát hiện ra những năng lực đặc biệt hoặc những khó khăn , thiếu sót của từng cá nhân người học. Bảng hỏi ngắn kiểm tra kiến thức nền không chỉ giúp GV có được thông tin về những kiến thức HS đã chuẩn bị cho môn học/ bài học mà còn giúp xác định được điểm bắt đầu hiệu quả nhất của môn học/bài học mới phù hợp với từng đối tượng. Thẻ kiểm tra nhằm đánh giá kiến thức của HS trước, trong và sau mỗi bài học hoặc sau mỗi chủ đề học tập. Bảng KWL nhằm giúp GV tìm hiểu kiến thức có sẵn của học sinh về bài học, đặt ra mục tiêu cho hoạt động học, giúp HS tự giám sát quá trình học của các em, cho phép HS đánh giá quá trinh học, tạo cơ hội cho HS diễn tả ý tưởng của các em vượt ra khỏi khuôn khổ bài đọc. 3. Cách sử dụng 3.1. Cách sử dụng câu hỏi vấn đáp Sử dụng câu hỏi vấn đáp trong quá trình dạy họ để kiểm tra, đánh giá kiến thức , thái độ của học sinh trên lớp. 3.1.1.Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi: - Câu hỏi chính xác, rõ ràng - Câu hỏi xây dựng theo hệ thống - Câu hỏi theo quy luật lôgic - Câu hỏi theo quy luật nhận thức và khả năng nhận thức của đối tượng cụ thể: BM-SK02 Trang 12 + Xây dựng câu hỏi từ dễ đến khó; +Từ cụ thể đến khái quát, từ khái quát đến cụ thể; + Câu hỏi từ tái tạo đến sáng tao; + Số lượng câu hỏi vừa phải, sử dụng câu hỏi tập trung vào nội dung “phải biết” trong bài học. + Sử dụng 6 loại câu hỏi, xếp thứ tự từ thấp đến cao theo thang đánh giá Bloom: Dạng 1. câu hỏi “biết” Mục tiêu: câu hỏi biết nhằm kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ kiện, số liệu, tên người hoặc địaphương, các định nghĩa, định luật, quy tắc, khái niệm Tác dụng đối với HS: Giúp HS ôn lại những gì đã biết, đã trải qua. Cách sử dụng: Khi hình thành câu hỏi GV có thể sử dụng các từ, cụm từ sau đây: Ai ? Cài gì ? Ở đâu ? Thế nào ?Khi nào ? Hãy định nghĩa Hãy mô tả ; Hãy kể lại Ví dụ khi dạy đọc hiểu văn bản Bài học đường đời đầu tiên (lớp 6) câu hỏi ở các cấp độ biết được GV sử dụng như sau: Bài học đường đời đầu tiên được trích từ tác phẩm nào? Tác phẩm này do ai sáng tác? Em đã biết gì về nhà văn ấy? Dạng 2. Câu hỏi “hiểu” Mục tiêu: Câu hỏi “hiểu” nhằm kiểm tra HS cách liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu, các đặc điểm khi tiếp nhận thông tin. Tác dụng đối với học sinh: Giúp HS có khả năng nêu ra được những yếu tố cơ bản trong bài học; biết cách so sánh các yếu tố, các sự kiện trong bài học. Cách thức sử dụng: Khi hình thành câu hỏi, GV có thể sử dụng các cụm từ sau đây: Hãy so sánh ; Hãy liên hệ ; Vì sao ?Giải thích ? Ví dụ khi dạy học đọc hiểu văn bản Bài học đường đời đầu tiên (lớp 6), câu hỏi hiểu như sau: Nhân vật trong câu chuyện trên là ai? Ai là người kể lại câu chuyện? Điều đó có tác dụng gì? Dạng 3. Câu hỏi “áp dụng” Mục tiêu: Câu hỏi “áp dụng” nhằm kiểm tra khả năng áp dụng những thông tinđã thu được (các dữ liệu, số liệu, đặc điểm ) vào tình huống mới. Tác dụng đối với học sinh: Giúp HS hiểu được nội dung kiến thức, các khái niệm, định luật; biết lựa chọn phương pháp để giải quyết vấn đề trong nghề nghiệp và cuộc sống. BM-SK02 Trang 13 Cách thức sử dụng: - Khi dạy học, GV cần tạo ra những tình huống mới, các bài tập, các vấn đề giúp HS vận dụng các kiến thức đã học. - GV có thể đưa ra nhiều câu trả lời khác nhau để HS lựa chọn một cau trả lời đúng. Chính việc so sánh các lời giải khác nhau là một quá trình tích cực. Ví dụ: Khi dạy đọc hiểu văn bản Bài học đường đời đầu tiên (lớp 6), có thể đặt câu hỏi áp dụng như sau: Khi đọc hiểu một văn bản truyện, ta cần chú ý điều gì? Câu hỏi này giúp HS hình thành được kĩ năng đọc văn bản truyện, từ đó có năng lực đọc những văn bản tương tự. Dạng 4. Câu hỏi “phân tích” Mục tiêu: Câu hỏi “phân tích” nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đê, từ đó tìm ra mối liên hệ, hoặc chứng minh luận điểm, hoặc đi đến kết luận. Tác dụng đối với học sinh: Giúp HS suy nghĩ, có khả năng tìm ra được các mối quan hệ trong hiện tượng, sự kiện, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận riêng, do đó phát triển được tư duy lôgic. Cách thức sử dụng: Câu hỏi phân tích thường đòi hỏi HS phải trả lời: tại sao? (khi giải thích nguyên nhân). Em có nhận xét gì? (khi đi đến kết luận). Em có thể đư ra luận cứ như thế nào? (khi chứng minh luận điểm); câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải. Ví dụ: Khi dạy đọc hiểu văn bản Bài học đường đời đầu tiên (lớp 6), có thể đặt câu hỏi phân tích như sau: Hãy tìm những từ ngữ miêu tả trực tiếp tâm trạng của Dế mèn khi chứng kiến cái chết của Dế Choắt. Em hình dung như thế nào về tâm trạng củ Dế Choắt trong tình huống này? Dạng 5. Câu hỏi “tổng hợp” Mục tiêu: Câu hỏi “tổng hợp” nhằm kiểm tra khả năng của HS có thể đưa ra dự đoán, cách giải quyết vấn đề, các câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo. Tác dụng đối với học sinh: Kích thích sự sáng tạo của HS, hướng cac em tìm ra nhân tố mới Cách thức sử dụng: BM-SK02 Trang 14 - GV cần tạo ra những tình huống phức tạp, những câu hỏi có vấn đề, khiến HS phải suy đoán, có thể tự do dưa ra những lời giải mang tính sáng tạo riêng của mình. Ví dụ: khi dạy học đọc hiểu văn bản trên có thể đặt câu hỏi ‘tổng hợp” như sau: Theo em bài học đường đời đầu tiên mà Dế Mèn rút ra cho mình là gì? Dạng 6. Câu hỏi “đánh giá” Mục tiêu: Câu hỏi “đánh giá” nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán của HS trong việc nhận định, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng dựa trên các tiêu chí đã đưa ra. Tác dụng đối với HS: Thúc đẩy sự tìm tòi tri thức, sự xác định giá trị của HS. Cách thức sử dụng: Theo mức khái quát của vấn đề có: Câu hỏi khái quát; câu hỏi theo chủ đề bài học; câu hỏi theo nội dung bài học; Theo mức độ tham gia của hoạt động nhận thức của người học có: Câu hỏi tái tạo và câu hỏi sáng tạo. Ví dụ: Khi dạy đọc hiểu văn bản Bài học đường đời đầu tiên (lớp 6) có thể đặt cho HS câu hỏi đánh giá: Em thích nhất điều gì trong câu chuyện này? 3.1.2. Những yêu cầu khi đặt câu hỏi - Câu hỏi đưa ra một cách rõ ràng; - Câu hỏi hướng tới cả lớp; - Chỉ định một HS trả lời, cả lớp lắng nghe và phân tích câu trả lời; - Gv có kết luận. 3.1.3. Những yêu cầu khi GV nhận xét bằng lời nói sản phẩm học tập hay hành vi của HS. Nhận xét tích cực bằng lời nói có tác dụng điều chỉnh hành vi. Các kết quả nghiên cứu cho thấy những đánh giá dưới dạng nhận xét tích cực bằng lời của GV, của bạn cùng lớp về một sản phẩm học tập nào đó Điêu này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vi nó giúp HS tự “cài đặt” lại suy nghĩ/niềm tin tích cực cho chính mình. Ví dụ: để đánh giá một sản phẩm học tập (một bức tranh, một bài thơ, một bài văn ), Gv yêu cầu HS hãy nói những lời nhận xét của cá nhân GV gợi ý, định hướng để HS nói ra những nhận xét bằng lời mang tính xây dựng, tập trung vào những điểm tích cực hơn là những điểm chưa tích cực. 3.2. Cách sử dụng bảng hỏi ngắn kiểm tra kiến thức nền BM-SK02 Trang 15 - Chuẩn bị 2,3 câu hỏi mở (yêu cầu trả lời ngắn gọn), hoặc 10 – 12 câu hỏi nhiều lựa chọn để kiểm tra kiến thức của HS về các khái niệm, vấn đề liên quan đến nội dung sẽ học. Viết các câu hỏi lên bảng hoặc lên giấy để phát cho HS, hướng dẫn cách trả lời và thông báo cho HS biết kết quả của bài kiểm tra không ảnh hưởng tới kết quả học tập môn học mà nhằm mục đích giúp GV và HS xây dựng được kế hoạch dạy - học hiệu quả. Ngay sau giờ học thông báo lại cho HS kết quả của bài kiểm tra và rút ra nhận xét, kết luận về kết quả của bài đánh giá, giúp HS xác định được những công việc cần phải chuẩn bị để học bài mới. Bài kiểm tra kiến thức nền không mang tính chất thách đố hoặc thi cử. Trên cơ sở kết quả của bài kiểm tra kiến thức nền, Gv có thể có phương án cấu trúc lại chương trình, nội dung môn học/bài hcj cho phù hợp. Ví dụ: Khi dạy học đọc hiểu văn bản thông tin Động Phong Nha - Đệ nhất kì quan động, tác giả sử dụng bảng hỏi ngắn như sau: BẢNG HỎI NGẮN Trước khi du lịch, em và những người thân trong gia đình có tìm hiểu những thông tin về địa điểm du lịch không? Nếu có, em và mọi người thường tìm hiểu thông tin ở đâu? Những thông tin thu thập được có ảnh hưởng tới gia đình em không? 3.3. Cách sử dụng thẻ kiểm tra Một hoạt động tương đối dễ kéo dài trong 3-5 phút nhằm kiểm tra kiến thức của người học trước, trong và sau một bài học hoặc một buổi học. HS được yêu cầu trả lời 3 câu hỏi do GV đưa ra. Ví dụ khi kết thúc bài học/ giờ dạy GV yêu cầu HS trả lời 3 câu hỏi ngắn: (1)Điều gì trong bài học hay giờ học này làm em thích nhất? (2) Chỗ nào, phần nào hoặc điều gì trong bài học trong bài học hay giờ học này làm em khó hiểu? cần cô giải thích lại? (3) Điều gì em đặc biệt quan tâm hay mong muốn được biết, nhưng thầy/cô trong bài học này chưa đề cập đến? HS được GV yêu cầu viết nhanh câu trả lời vào thẻ hay phiếu kiểm tra. GV có thể đọc nhanh các câu trả lời sẽ biết được nhiều thông tin rất bổ ích và lập kế hoạch cho việc điều chỉnh hoạt động giảng dạy đáp ứng nhu cầu của HS. BM-SK02 Trang 16 Thẻ kiểm tra thường dùng trong dạy học Ngữ văn, Ví dụ sau khi học xong phần đọc hiểu Động Phong Nha - Đệ nhất kì quan động, tác giả sử dụng thẻ kiểm tra như sau: THẺ KIỂM TRA 1. Người viết văn bản Động Phong Nha - Đệ nhất kì quan động là ai? Văn bản hướng tới đối tượng đọc nào? 2. Bài viết thu hút sự quan tâm của nhiều người muốn tìm hiểu và đến thăm động Phong Nha. Theo em, làm thế nào mà người viết đạt được mục đích của mình? Em có bị lôi cuốn bởi cách trình bày cũng như nội dung bài viết không? Vì sao? 3.4. Cách sử sụng bảng KWLH Chọn bài học: Công cụ này đặc biệt có hiệu quả với các bài học mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích. Tạo bảng KWLH: GV vẽ hoặc trình chiếu bảng KWL, ngoài ra, mỗi HS cũng có một mẫu bảng của các em. + Cột K: Những gì HS đã biết + Cột W: Những gì HS muốn biết + Cột L: Những gì HS đã học được + Cột H: Những cách thức HS tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu. Đề nghị H động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề. Cả GV và HS cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K. Hoạt động này kết thúc khi HS đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Tổ chức cho HS thảo luận về những gì các em đã ghi nhận. Trong dạy học Ngữ văn, Gv có thể dùng bảng KWLH để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS ở tất cả các hoạt động đọc, viết, nói, nghe. Ví dụ khi dạy đọc hiểu văn bản Trái đất – cái nôi của sự sống (Lớp 6), GV phát cho HS phiếu học tập được thiết kế theo mẫu KWLH. Yêu cầu HS điền vào hai cột K, W, trong hoạt động khởi động, và điền vào hai cột L và H sau hoạt động liên hệ, mở rộng. K W L H Điều tôi đã biết về Điều tôi muốn Điều tôi đã học Tôi sẽ tiếp tục BM-SK02 Trang 17 Trái đất biết qua văn bản được từ văn bản nghiên cứu về vấn Trái đất – cái nôi Trái đất – cái nôi đề mà văn bản đặt của sự sống của sự sống ra bằng những cách sau: . . .. . . .. Giải pháp 2. Xây dựng bảng kiểm 1. Khái niệm Bảng kiểm là một danh sách ghi lại các tiêu chí (về các hành vi, các đặc điểm, mong đợi) có được biểu hiện hoặc được thực hiện hay không. Dưới đây là ví dụ về một bảng kiểm đánh giá kĩ năng điễn đạt bằng lời nói trong khi thuyết trình của HS: Tiêu chí Xuất hiện 1. Diễn đạt trôi chảy 2. Tốc độ vừa phải 3. Âm lượng vừa phải Bảng kiểm thường chỉ rõ sự xuất hiện hay không xuất hiện (có mặt hay không có mặt, được thực hiện hay không được thực hiện) các hành vi, các đặc điểm mong đợi nào đó. 2. Mục đích sử dụng Bảng kiểm được sử dụng để đánh giá các hành vi hoặc sản phẩm mà HS thực hiện. Với một danh sahs tiêu chí đã xay dựng sẵn, GV sẽ sử dụng bảng kiểm để quyết định xem những hành vi hoặc những đặc điểm của sản phẩm mà HS thực hiện có khớp với tiêu chí có trong bảng kiểm không. GV có thể sử dụng bảng kiểm nhằm: - Đánh giá sự tiến bộ của HS - GV còn có thẻ tổng hợp các tiêu chí trong bảng kiểm và lượng hoá chúng thành điểm số theo cách tính % để xác định mức độ HS đạt được. - Bảng kiểm được sử dụng trong quá trình Gv quan sát các thao tác tiến hành một hoạt động cụ thể của HS trong quá trình họ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể: làm việc nhóm, thuyết trình, đóng vai, thực hành BM-SK02 Trang 18 - Bảng kiểm còn dùng để đánh giá thái độ, hành vi về một phẩm chất nào đó. 3. Cách xây dựng và sử dụng bảng kiểm Gv có thể tiến hhành thiết kế bảng kiểm dùng để đánh giá HS theo những bước sau: - Phân tích yêu cầu cần đạt của bài học, chủ đề và xác định các kiến thức, kĩ năng HS cần đạt được. - Phân chia những quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc sản phẩm của HS thành những yếu tố cấu thành và xác định những hành vi, đặc điểm mong đợi căn cứ vào yêu cầu cần đạt. - Trình bày các hành vi, đặc điểm mong đợi đó theo một trình tự để theo dõi và kiểm tra. - Trong môn ngữ văn bảng kiểm là một công cụ đánh giá hữu ích, có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc sản phẩm học tập của HS. Điều quan trọng là cần phải xác định các yếu tố cấu thành của quá trình thực hiện các nhiệm vụ trong các hoạt động đọc, viết, nói và nghe hay tiêu chí của sản phẩm học tập ngữ văn của HS, từ đó cụ thể hoá hành vi mong đợi căn cứ vào yêu cầu cần đạt của bài học. Dưới đây là một số bảng kiểm sử dụng trong bối cảnh dạy học hiện nay: Ví dụ 1. Để đánh giá kx năng tóm tắt văn bản tự sự, Gv có thể xây dựng hai loại bảng kiểm: bảng kiểm giúp đánh giá các thao tác HS thực hiện trong quá trình tóm tắt văn bản và bảng kiểm đánh giá bản tóm tắt mà HS đã tạo lập. BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ CÁC THAO TÁC THỰC HIỆN TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ STT Tiêu chí Xuất hiện Không xuất hiện 1 Đọc kĩ văn bản để hiểu đúng đề 2 Xác định nội dung chính cần tóm tắt 3 Sắp xếp các nội dung chính theo một trật tự hợp lí 4 Viết văn bản tóm tắt theo trật tự nội dung chính đã xác định 5 Đọc lại bản tóm tắt và chỉnh sửa bản tóm BM-SK02 Trang 19 tắt nếu cần thiết BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ STT Tiêu chí Xuất hiện Không xuất hiện 1 Bản tóm tắt trung thành với văn bản gốc 2 Bản tóm tắt đảm bảo tính ngắn gọn 3 Bản tóm tắt tập trung làm rõ các sự việc tiêu biểu và nhân vật quan trọng 4 Bản tóm tắt đảm bảo các yêu cầu về tính liên kết của văn bản 5 Bản tóm tắt đảm bảo các yêu cầu về sử dụng từ ngữ 6 Bản tóm tắt đảm bảo các yêu cầu về ngữ pháp 7 Bản tóm tắt đảm bảo các yêu cầu về chuẩn chính tả Giải pháp 3. Xây dựng thang đánh giá 1. Khái niệm Thang đánh giá là công cụ đo lường mức độ mà HS đạt được ở mỗi đặc điểm, hành vi về khía cạnh/ lĩnh vực cụ thể nào đó. Có 3 hình thức biểu hiện cơ bản của thang đánh giá là dạng thang số, thang dạng đồ thị và thang dạng mô tả. 2. Mục đích sử dụng Thang đánh giá dùng để đánh giá sản phẩm, quá trình hoạt động hay một phẩm chất nào đó ở HS. Với một thang đánh giá được thiết kế sẵn, người đánh giá so sánh hoạt động, sản phẩm hoặc biểu hiện về phẩm chất của HS với những mức độ trên thang đo để xác định xem HS đạt được ở mức độ nào. Thang đánh giá rất có giá trị trong việc theo dõi sự tiến bộ của HS. Nếu GV lưu giữ bản sao chép thang đánh giá qua một số bài tập/nhiệm vụkhác nhau ở những thời điểm khác nhau, sẽ có một hồ sơ để theo dõi và đánh giá sự tiến bộ của mỗi HS. BM-SK02 Trang 20
Tài liệu đính kèm: