SKKN Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong hoạt động nhóm nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh lớp 6a1, 6a2, 6a3 tại trường THCS TT Nham Biền 1

doc 18 trang Người đăng Liễu Như Yên Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 2Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong hoạt động nhóm nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh lớp 6a1, 6a2, 6a3 tại trường THCS TT Nham Biền 1", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP
 VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
 1. Tên sáng kiến: Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong hoạt động 
nhóm nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh lớp 6a1, 6a2, 6a3 tại 
trường THCS TT Nham Biền 1
 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 05/09/2023
 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không
 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: (Nêu rõ tên giải pháp, tình trạng 
và nhược điểm, hạn chế của giải pháp cũ):
 Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý 6 ( phân môn Lịch sử) là bộ sách mới được 
trong chương trình GDPT mới 2018. Trong sách giáo khoa có kiến thức lý thuyết 
nhẹ hơn sách cũ, nhiều hoạt động cần phải thực hiện, đặc biệt cần phải nhấn mạnh 
vai trò trung tâm của học sinh và chủ động trong cách hoạt động. Sách mới có 
nhiều ưu điểm để phát triển toàn diện cho học sinh, tuy nhiên sẽ có những khó 
khăn trong việc xây dựng và tổ chức tiết học. Cho nên một số giáo viên hiện nay 
vẫn thực hiện phương pháp “dạy học thụ động”
 Qua thực tế giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy các giờ học không 
sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, học sinh có tham gia xây dựng bài học 
thông qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt của giáo viên nhưng số học sinh có thái độ 
chưa tích cực tham gia xây dựng bài học chiếm số lượng khá đông và kết quả học 
tập bộ môn thường đạt ở mức trung bình. Tình trạng học sinh lười học bài, ngồi 
học không tập trung, mất phương hướng trong học tập, điểm số thấp còn không ít. 
 Trong quá trình dạy học lịch sử chúng ta thấy tồn tại hai thực tiễn trái ngược 
nhau: Có nhiều GV dạy giỏi, tâm huyết với nghề, có sự đầu tư chuyên môn, nắm 
vững kiến thức, xây dựng cho HS niềm tin khoa học. Cho nên khi tiến hành bài 
học lịch sử thường xuyên đổi mới phương pháp đã lôi cuốn được học sinh, các em 
nắm vững kiến thức cơ bản, say mê và yêu thích môn học, tích cực tham gia các 
hoạt động học tập. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều giáo viên khi dạy học chỉ tóm tắt 
nội dung sách giáo khoa, hay phát thanh lại nguyên xi sách giáo khoa mà không có 
sự đầu tư chuyên môn, không tổ chức các hoạt động học tập bằng phương pháp, kĩ 
thuật dạy học tích cực làm cho giờ học lịch sử trở nên nhàm chán, không thu hút và 
tạo hứng thú học tập bộ môn đối với học sinh. Quan niệm môn lịch sử là môn học 
thuộc lòng, không cần đến tư duy xuất hiện từ đó.
 Một số giáo viên chưa thực sự đầu tư cho giờ dạy (chuẩn bị giáo án chưa chu 
đáo, phương tiện trợ giảng chưa đầy đủ, chưa sử dụng các phương pháp, kĩ thuật 
tích cực hoặc đã bước đầu sử dụng nhưng chưa phù hợp...) nên bài dạy chưa sinh 
động, sôi nổi; chưa tạo hứng thú cho học sinh, chưa lôi cuốn các em vào tiết học, 2
mà chủ yếu là những câu hỏi “khô khan” mang tính trừu tượng hóa cao nên phần 
lớn các em bắt đầu và kết thúc tiết học trong trạng thái hờ hững, hời hợt.
 Một số giáo viên chưa thực hiểu đúng, rõ bản chất của các kĩ thuật dạy học 
hoặc khi sử dụng còn lúng túng, sử dụng chưa hợp lí với nội dung của bài học hoặc 
chưa phù hợp với đối tượng học sinh nên hiệu quả của việc sử dụng các kĩ thuật 
dạy học chưa cao, tiết học chưa thu hút được sự tham gia của các học sinh trong 
lớp.
 Một số ít giáo viên chưa tích cực hóa hoạt động của học sinh tạo điều kiện 
cho các học sinh chiếm lĩnh kiến thức, để học sinh được tham gia vào các hoạt 
động mà vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học “thầy nói, trò nghe”, “thầy đọc, 
trò chép”; GV chủ yếu cho HS hoạt động cá nhân mà chưa chú trọng vào việc sử 
dụng các kĩ thuật dạy trong các hoạt động nhóm. Do đó, nhiều học sinh chưa nắm 
kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn sách giáo 
khoa hoàn toàn. 
 Kĩ năng ứng dụng và sử dụng CNTT của giáo viên rất hạn chế; giáo viên chưa 
biết cách để thiết kế và tổ chức, sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực hoặc có sử 
dụng nhưng không thành thạo, chưa sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động dạy học 
mà chỉ áp dụng 1 cách máy móc, chưa phù hợp với đối tượng học sinh. 
 Ở trường THCS TT Nham Biền 1 đại đa số học sinh chưa có nhận thức đúng 
về tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử, với tâm lý đây là môn học thuộc với các sự 
kiện dài dòng, khô khan nên các em chưa có sự đầu tư vào môn học. Học sinh luôn 
có tư tưởng coi Lịch sử là môn phụ nên không cần thiết, thậm chí có nhiều em 
chán ghét môn học, sợ phải đến tiết Lịch sử; các em chưa chú trọng vào việc chuẩn 
bị bài học ở nhà, chưa có thói quen tìm hiểu nội dung của bài mới, nên khi thực 
hiện các hoạt động trên lớp các em chưa chủ động hoặc cảm thấy mặc cảm, tự ti về 
bản thân nên hầu hết các em sẽ không tham gia vào các hoạt động học đặc biệt là 
các hoạt động nhóm mà thường ỷ lại một số bạn học sinh Khá - Giỏi trong lớp. Vì 
vậy, tiết học diễn ra “buồn tẻ”, một chiều; chưa có sự trao đổi, tương tác giữa các 
em HS với nhau; học sinh chưa hình thành và phát huy được những năng lực và 
phẩm chất cần đạt.
 Việc đổi mới phương pháp dạy học chưa nhiều, chưa sâu; nhiều giáo viên 
chưa thực sự đổi mới, chưa biết sử dụng các phương pháp, kĩ thuật tích cực vào 
trong bài học hoặc có sử dụng nhưng chưa đa dạng, hiệu quả chưa cao, chưa sinh 
động để lôi cuốn các em vào các hoạt động, tạo không khí lớp học sôi nổi, mà chủ 
yếu là đặt những câu hỏi “khô khan” mang tính trừu tượng hóa cao nhằm khai thác 
nội dung bài học nên chưa tạo ra hứng thú cho học sinh, hiệu quả của việc tổ chức 
các hoạt động dạy học chưa cao; dẫn đến chất lượng giảng dạy của bộ môn còn 
thấp. Một số giáo viên vẫn còn tih
 Đối với học sinh lớp 6, các em đều trong độ tuổi thiếu niên là học sinh đầu 
cấp, các em chưa quen với phương pháp và cách học ở trường THCS, ở lứa tuổi 
này đa số các em đều thích “chơi” hơn thích “học” và thường nhanh chán nản, 
thiếu tính kiên trì, chưa ham học hỏi nếu bài học có nhiều đơn vị kiến thức. Trong 
lớp có nhiều đối tượng học sinh khác nhau (Ví dụ: lớp 6A1, 6A2, 6A3, tổng số 132 
học sinh, trong đó có sự khác nhau về học lực và ý thức học tập, khả năng tiếp thu 
 3
và giải quyết vấn đề, tham gia các hoạt động của các em cũng có sự chênh lệch; 
dẫn đến chất lượng của giờ dạy lịch sử và chất lượng học tập của học sinh chưa 
cao; số lượng học sinh giỏi môn lịch sử rất thấp trong khi số lượng học sinh trung 
bình và yếu nhiều; ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chung của bộ môn).
 Để các hoạt động học tập của HS được tích cực hóa, tôi thường hay sử dụng 1 
số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như: kĩ thuật khăn trải bàn; kĩ thuật 
5W1H, kĩ thuật mảnh ghép hoặc sơ đồ tư duy, kĩ thuật trò chơi . vào trong các 
tiết dạy lịch sử góp phần vào việc đổi mới trong dạy học và kiểm tra đánh giá. 
Đồng thời, các kĩ thuật dạy học còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc khuyến khích sự 
tham gia của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sáng tạo và cộng tác của 
HS. Đây cũng là “công cụ” quan trọng góp phần phát triển năng lực và phẩm chất 
của HS. Một số kĩ thuật dạy học tích cực có thể được áp dụng thuận lợi trong làm 
việc nhóm. Từ đó, giúp nâng cao chất lượng của giờ dạy, chất lượng của bộ môn. 
Tôi xin mạnh dạn đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng môn Lịch sử thông qua 
biện pháp “Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong hoạt động nhóm 
nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh lớp 6a1, 6a2, 6a3 tại 
trường THCS TT Nham Biền 1” đã được tôi sử dụng trong quá trình soạn bài và 
giảng dạy của mình. Biện pháp này đã góp phần tạo hứng thú học tập cho học sinh 
trong các giờ dạy và nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn đã được Ban giám 
hiệu nhà trường, tổ chuyên môn, bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao về tính hiệu quả 
của nó mang lại. Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo 
phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Thầy cô giáo cần phải 
có bản lĩnh, chuyên môn tốt và cả sự nhiệt thành, hoạt động hết công suất trong 
quá trình giảng dạy.
 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến:
 Sử dụng phương pháp dạy học tích cực được coi là phương pháp quan trọng 
không thể thiếu trong DHLS. Vì kiến thức trong sách giáo khoa chỉ là những kiến 
thức cơ bản do đó giáo viên phải đưa thêm phương pháp, nguồn tài liệu để làm cho 
bài giảng sinh động và hấp dẫn hơn.
 Mặt khác, sử dụng phương pháp dạy học tích cực đổi mới phương pháp dạy 
học nói chung và DHLS nói riêng. Trong đó, giáo viên có vai trò hướng dẫn học 
sinh sử dụng các phương pháp tùy theo mức độ của bài học. Còn học sinh sẽ tích 
cực, chủ động vận dụng những kiến thức để tham gia các hoạt động học tập lịch sử 
để hiểu sâu sắc, toàn diện sự kiện lịch sử. Nếu sử dụng tốt phương pháp dạy học 
tích cực vào gây hứng thú học tập cho học sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả 
DHLS.
 Việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực – học lịch sử góp phần nâng cao 
chất lượng dạy học, trên cơ sở đó giáo dục tư tưởng, đạo đức, lí tưởng cho học 
sinh, góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em. Cụ thể là:
 + Về kiến thức:
 Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong DHLS ở trường THCS góp 
phần cung cấp, bổ sung kiến thức về lịch sử, văn hóa xã hội, địa lí, văn học cho 
học sinh. Trong quá trình dạy học, giáo viên phải sử dụng thêm các phương pháp 
 4
dạy học tích cực, hình ảnh, video để bổ sung cho những kiến thức trong sách giáo 
khoa lịch sử.
 + Về thái độ:
 Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông có ưu thế trong việc giáo dục con người 
phát triển toàn diện. Điều này sẽ tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức 
một cách đúng đắn cho các em.
 Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong DHLS sẽ giúp hình thành cho 
học sinh lòng yêu quê hương, đất nước, có thái độ đúng đắn trong đấu tranh giành độc 
lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Ưu thế này thuộc về những bài hát lịch sử, cách mạng.
 + Về kỹ năng:
 Việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực sẽ rèn luyện thúc đẩy giúp các 
em học sinh phát huy tính tích cực của bản thân. Đồng thời phát triển khả năng làm 
việc nhóm, trách nhiệm và khả năng giao tiếp của các em.
 Hơn nữa, vận phương pháp dạy học tích cực còn rèn luyện cho học sinh khả 
năng nhớ lại các kiến thức đã học vào nhận thức kiến thức mới.
 + Về phẩm chất, năng lực hướng tới
 Phẩm chất: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm.
 Năng lực chung: Năng lực tự chủ, tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng 
lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
 Năng lực chuyên biệt: Tái hiện nhân vật lịch sử, sự kiện; xác định giải quyết 
mối liên hệ ảnh hưởng tác động; nhận xét, đánh giá rút ra bài học; thông qua sử 
dụng ngôn ngữ lịch sử thể hiện chính kiến của mình về các vấn đề lịch sử.
 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến (Nêu rõ mục đích khắc phục các 
nhược điểm của giải pháp cũ hoặc mục đích của giải pháp mới do mình tạo ra):
 Mục đích phương pháp dạy học tích cực chính là cách dạy học mà ở đó, giáo 
viên là người đưa ra những gợi mở cho một vấn đề và cùng học sinh bàn luận, tìm 
ra mấu chốt vấn đề cũng như những vấn đề liên quan. Phương pháp này lấy sự chủ 
động tìm tòi, sáng tạo, tư duy của học sinh làm nền tảng, giáo viên, gia sư chỉ là 
người dẫn dắt và gợi mở vấn đề.
 Cụ thể, mục đích mà phương pháp dạy học tích cực mang lại cho học sinh là:
 + Phát triển kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm
 Học sinh được rèn luyện kỹ năng này một cách thường xuyên. Chúng thấy 
được sức mạnh của làm việc tập thể và các khó khăn cần khắc phục.
 + Tăng mức độ tương tác
 Nhiều hoạt động đồng nghĩa với tăng mức độ tương tác, lớp học sẽ sôi động 
và đầy hứng khởi.
 + Cải thiện tư duy phản biện
 Khi học sinh trở thành tâm điểm, thì việc tiếp thu kiến thức thụ động không 
còn nữa.
 + Khả năng ghi nhớ và tiếp thu kiến thức
 5
 Học sinh, sinh viên nhớ khoảng 10% những gì họ đọc, 20% những gì họ 
nghe, nhưng 90% những gì họ làm.
 + Tận dụng tối đa lợi ích của công nghệ giáo dục
 Trái ngược với các giảng đường, nơi thường có màn hình hiển thị mà sinh 
viên không thể sử dụng và hệ thống âm thanh chỉ thu được giọng nói của người 
thuyết trình, nhiều lớp học tích cực chứa đầy các công cụ và hệ thống lấy sinh viên 
làm trung tâm.
 + Khơi nguồn tư duy sáng tạo
 Sáng tạo là một trong những kỹ năng khó dạy nhất khi sử dụng các phương 
pháp truyền thống. Học tập tích cực giúp học sinh hiểu rằng sự sáng tạo nó ắt phát 
triển bằng sự nỗ lực và làm việc chăm chỉ.
 + Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề thực tế
 Khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp trở thành kỹ năng quan trọng nhất 
cần thiết cho các công việc trong tương lai. Học sinh trong các lớp học tích cực 
hiểu rằng không ai có tất cả các câu trả lời, vì vậy họ phải tìm ra câu trả lời.
 7. Nội dung:
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến (Nêu rõ, chi tiết và đầy đủ 
các bước thực hiện giải pháp mới hoặc cải tiến và có thể minh họa bằng các bản 
vẽ, thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm, đĩa, bảng biểu, số liệu, ):
 Biện pháp 1: Sử dụng kĩ thuật “Khăn trải bàn”
 * Mục đích: 
 - Kích thích sự tham gia tích cực các hoạt động nhóm trong môi trường giáo 
dục tập thể.
 - Tăng cường tính tương tác và trao đổi về kiến thức giáo dục lẫn nhau của HS.
 - Phát triển tính độc lập, có trách nghiệm của cá nhân HS.
 * Cách tiến hành: Hoạt động theo nhóm 4 - 6 người/ nhóm (có thể nhiều 
người hơn). Mỗi học sinh sẽ viết vào ô mang số của bạn hoặc mảnh giấy ghi nhớ 
 6
câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề...). Mỗi cá nhân làm việc độc lập sau đó 
các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời và viết những ý kiến 
chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0). Kĩ thuật này giúp cho 
hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về 
chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi. Sau khi các nhóm 
hoàn thành nhiệm vụ; HS gắn các sản phẩm lên bảng hoặc xung quanh lớp học (kĩ 
thuật phòng tranh); đại diện các nhóm trình bày sản phẩm và HS nhóm khác nhận 
xét, trao đổi, phản biện.
 * Xây dựng kế hoạch bài dạy: có thể xây dựng ở các bài 7, bài 8, bài 9, bài 
10, bài 14, bài 15, bài 19 trong SGK Lịch sử và địa lí 6 (phân môn Lịch sử)
 Ví dụ biện pháp 1: Sử dụng kĩ thuật “Khăn trải bàn”. Tìm hiểu những 
thành tựu văn hóa chủ yếu của người Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại. (Mục 3 - Bài 
7 Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại)
 * Mục tiêu: HS nêu, nhận xét được những thành tựu văn hoá chủ yếu của Ai 
Cập và Lưỡng Hà cổ đại và hiểu được giá trị của các thành tựu đó với cả ngày nay
 * Phương thức thực hiện: 
 - GV yêu cầu HS quan sát H1, H2, H4, H5, H6, H7 và tư liệu SGK, (hoặc 
chiếu video); HS hoạt động nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, thời gian 6 phút, hoàn 
thành bảng phụ với nội dung sau: (Khuyến khích HS có thể trình bày sản phẩm 
dưới nhiều hình thức như sơ đồ tư duy, áp phích )
 - HS hoạt động cá nhân, ghi nội dung ra giấy ghi nhớ hoặc ghi vào các góc 
của bảng phụ, thời gian 2 phút 
 - HS trao đổi, thảo luận và thống nhất nội dung vào phần giữa của bảng phụ, 
thời gian 4 phút.
 7
 H4. Kĩ thuật ướp xác
 Yêu Cầu Sản phẩm
Giới thiệu và nhận xét những thành tựu 
văn hóa chủ yếu của Ai Cập và Lưỡng 
Hà cổ đại (Chữ viết, toán học, lịch, y 
học và kiến trúc)
 * Sản phẩm:
 Thành tưu Ai Cập Lưỡng Hà
 Chữ viết Chữ tượng hình Chữ hình nêm (hình góc)
 Toán học Biết làm các phép tính theo hệ Theo hệ đếm 60, tính được diện 
 đếm thập phân. tích các hình
 Lịch Một năm có 360 ngày, chia làm Chia 1 năm thành 12 tháng, 
 12 tháng, một tháng có 30 ngày mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày
 Y học Kĩ thuật ướp xác
 Kiến trúc Kim tự tháp và tượng Nhân sư Vườn treo Ba-bi-lon
 => Đây là những thành tựu văn hóa rất quan trọng, đóng góp to lớn đối với 
nền văn minh nhân loại.
 8
 ❖ Biện pháp 2: Sử dụng kĩ thuật “5W1H”
 * Mục đích: nhằm xem xét các ý tưởng và vấn đề từ những góc độ khác 
nhau. Nó giúp hiểu vấn đề tốt hơn và tìm ra nguyên nhân gốc rễ của nó. Giúp 
nảy sinh ý tưởng và tìm giải pháp cho vấn đề cần tìm hiểu. 5W là từ viết tắt của 
What, Where, When, Why và Who, H là viết tắt của How.
 * Cách tiến hành: Giáo viên có thể sử dụng Sơ đồ 5W1H theo nhiều cách 
khác nhau:
 + Sử dụng Sơ đồ 5W1H để khai thác trực tiếp nội dung bài học ở trên lớp.
 + Dùng Sơ đồ 5W1H để minh họa cho nội dung.
 + Sử dụng Sơ đồ 5W1H với mục đích củng cố kiến thức.
 - Có thể tóm tắt một số bước dạy học trên lớp với Sơ đồ 5W1H:
 Bước 1: Học sinh lập Sơ đồ 5W1H theo gợi ý của giáo viên.
 Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết 
minh về sơ đồ 5W1H mà nhóm mình đã thiết lập. 
 Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung để hoàn thành Sơ đồ 5W1H về kiến 
thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn 
chỉnh sơ đồ tư, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
 Bước 4: Củng cố kiến thức bằng một Sơ đồ 5W1H mà giáo viên đã chuẩn bị 
sẵn hoặc một Sơ đồ 5W1H mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học 
sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
* Xây dựng kế hoạch bài dạy: có thể xây dựng ở các bài bài 9, bài 16 trong SGK 
Lịch sử và địa lí 6 (phân môn Lịch sử)
 ➢ Ví dụ biện pháp 2: Sử dụng kĩ thuật “5W1H”. Tìm hiểu về Nhà Tần 
thống nhất và xác lập chế độ phong kiến ở Trung Quốc (Mục 2- Bài 9 Trung 
Quốc từ thời cổ đại đến thế kỉ VII)
 * Mục tiêu: Mô tả được sơ lược quá trình thống nhất lãnh thổ và sự xác lập 
chế độ phong kiến ở Trung Quốc dưới thời Tần Thuỷ Hoàng.
 9
 * Phương thức thực hiện: GV yêu cầu HS quan sát H2,3 và tư liệu (tr.40 - 
41) để hoàn thành PHT số 2; HS thảo luận nhóm, kĩ thuật 5W1H, thời gian 5 phút.
 Câu hỏi:
 - Ai là người đã thống nhất Trung Quốc?
 - Thời gian thống nhất Trung Quốc khi nào? Ở đâu?
 - Tại sao cần phải thống nhất Trung Quốc? 
 - Quá trình thống nhất Trung Quốc diễn ra như thế nào?
 - Việc thống nhất Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng có ý nghĩa gì? 
 * Sản phẩm:
 10
 ❖ Biện pháp 3: Sử dụng kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”
 * Mục đích: nhằm giúp học sinh phân tích và nảy ra những ý tưởng mới tốt 
hơn, trình bày các vấn đề một cách logic và khoa học nhằm tăng khả năng ghi 
nhận hình ảnh của não bộ. Đây được xem là phương pháp để ghi nhớ chi tiết, 
tổng hợp các vấn đề nào đó thành một dạng của sơ đồ phân nhánh. Sơ đồ tư duy 
là cách thức giúp nâng cao hiệu quả ghi chép bằng cách sử dụng những giản đồ 
để thể hiện tổng thể vấn đề, xâu chuỗi vấn đề và liên kết các đối tượng liên quan 
được tóm gọn dưới dạng một hình ảnh bao gồm các đối tượng liên hệ với nhau 
bằng những đường nối. Từ đó, học sinh có thể dễ dàng, nhanh chóng ghi nhớ dữ 
liệu, sự kiện lịch sử hơn
 * Cách tiến hành: sơ đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, 
trên bảng hay thực hiện trên máy tính.Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình 
ảnh phản ánh chủ đề. Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi nhánh 
chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ 
IN HOA. Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh chính 
đó được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết 
trên các nhánh. Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội 
dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường. 
Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo. Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong 
nhiều tình huống khác nhau như: tóm tắt, ôn tập, trình bày tổng quan một chủ đề, 
một nội dung bài học ..
 11
 * Xây dựng kế hoạch bài dạy: có thể xây dựng ở các bài 14, bài 15, bài 16 
trong SGK Lịch sử và địa lí 6 (phân môn Lịch sử)
 ➢ Ví dụ biện pháp 3: Sử dụng kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”. Tìm hiểu về nhà 
nước đầu tiên của người Việt cổ (Mục 1- Bài 14 Nhà nước Văn Lang-Âu lạc)
 * Mục tiêu: 
 - Nêu được khoảng thời gian thành lập và xác định được phạm vi không gian 
của nước Văn Lang; ý nghĩa sự ra đời của nhà nước Văn Lang.
 - Trình bày được tổ chức nhà nước của Văn Lang.
 * Phương thức thực hiện: 
 - GV yêu cầu HS quan sát H2, H3 và tư liệu SGK, thực hiện hoạt động thảo 
luận nhóm, kĩ thuật sơ đồ tư duy, thời gian 7 phút, hoàn thành nội dung về sự ra 
đời nhà nước đầu tiên của người Việt cổ.
 H2. Lược đồ khu vực Bắc Bộ và H3. Sơ đồ tổ chức Nhà nước Văn 
Bắc Trung Bộ -xưa kia là địa bàn chủ Lang
yếu của nước Văn Lang-Âu Lạc
 * Sản phẩm:
 12
 ❖ Biện pháp 4: Sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”
 * Mục đích: nhằm kích thích tư duy sáng tạo và tính chủ động, phát huy sự 
năng động của học sinh, đồng thời rèn luyện cho các em tinh thần làm việc cá 
nhân, làm việc tập thể, kỹ năng trình bày kiến thức trước nhóm. Kích thích sự 
tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác
 * Cách tiến hành:
 Vòng 1: Nhóm chuyên gia
 - Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ 
cụ thể.
 - Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, 
chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình.
 - Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả 
lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của 
lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2.
 Vòng 2: Nhóm các mảnh ghép
 - Hình thành nhóm mảnh ghép, sao cho các nhóm đều có tối thiểu một thành 
viên đến từ mỗi nhóm chuyên gia.
 - Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới 
chia sẻ đầy đủ với nhau
 - Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 
thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết, các nhóm mới thực 
hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả.
 * Xây dựng kế hoạch bài dạy: có thể xây dựng ở các bài 2, bài 5 trong SGK 
Lịch sử và địa lí 6 (phân môn Lịch sử)
 ➢ Ví dụ biện pháp 4: Sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”. Tìm hiểu về 
đời sống vật chất, tinh thần của người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam 
(Mục 2 - Bài 5 - Xã hội nguyên thủy)
 * Mục tiêu: Mô tả và nhận xét được đời sống vật chất và tinh thần của người 
nguyên thủy trên đất nước Việt Nam.
 * Phương thức thực hiện: 
 - GV sẽ đánh số hoặc dán thứ tự của các HS mỗi nhóm; HS của mỗi nhóm 
phải nhớ được số thứ tự của mình.
 Vòng 1 của các nhóm chuyên gia: GV chia lớp thành 2 hoặc 4 nhóm tùy theo 
số lượng HS của lớp; nêu nhiệm vụ cho các nhóm, thời gian thực hiện 3 phút
 13
 Nhóm Nhiệm vụ
 Đọc tư kiệu Sgk và quan sát H3,4 trang 21-22 để tìm hiểu về đời sống 
 1 và 2
 vật chất của người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam.
 Đọc tư kiệu Sgk quan sát H5,6 trang 23 để tìm hiểu về đời sống tinh 
 3 và 4
 thần của người nguyên thủy trên đất nước Việt nam.
 H4: Lược đồ di chỉ thời đồ đá và đồ đồng ở Việt Nam; Cảnh đi săn 
 H5: Hình mặt người khắc trên vách hang Đồng Nội (Hòa Bình)
 Vòng 2: Mảnh ghép 
 - Hình thành 4 nhóm mới, có thể đặt tên cho các nhóm mới như (Phùng 
Nguyên, Núi Đọ, Hòa Bình, Lung Leng ) và yêu cầu HS có số thứ tự từ 1-2 của 
mỗi nhóm di chuyển đến nhóm Phùng Nguyên; HS có số thứ tự từ 3-4 di chuyển 
vào nhóm Núi Đọ; HS có số thứ tự từ 5-6 di chuyển vào nhóm Hòa Bình, HS có số 
thứ tự còn lại di chuyển đến nhóm Lung Leng)
 - HS thực hiện nhiệm vụ: mỗi nhóm hoàn thành vào bảng phụ (hoặc sơ đồ tư 
duy ) 3 nội dung sau: 
 Yêu cầu Sản phẩm
 Đời sống vật chất
 Đời sống tinh thần
 Nhân xét
 14
 - Lưu ý: Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong 
nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu, 
được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải 
quyết (lưu ý nhiệm vụ mới này phải gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1)
 * Sản phẩm:
 Yêu cầu Sản phẩm
 - Sống chủ yếu trong các hang động, mái đá hoặc các túp lều 
 lớp bằng cỏ khô hay lá cây
Đời sống vật - Biết mài đá, tạo ra nhiều loại công cụ khác nhau (rìu, bôn, 
 chất chày ) và vũ khí (mũi tên, mũi lao)
 - Bước đầu biết trồng trọt và chăn nuôi
 - Biết làm đồ gốm với hoa văn trang trí phong phú.
 - Biết làm đàn đá, vòng tay bằng đá và vỏ ốc, làm chuỗi hạt 
 Đời sống bằng đất nung, biết vẽ tranh trên vách hang...
 tinh thần - Đời sống tâm linh: chôn theo người chết cả công cụ và đồ 
 trang sức...
 Nhận xét - Đời sống vật chất, tinh thần khá phong phú và độc đáo.
 * Kết quả của sáng kiến (Số liệu cụ thể):
 Qua các tiết dạy học lịch sử tôi đã áp dụng thường xuyên các kĩ thuật dạy học 
khác nhau trong hoạt động thảo luận nhóm thì nhận thấy rằng về căn bản học sinh 
đã có sự thay đổi từ nhận thức, và bắt đầu có thái độ thích thú, hào hứng đối với, 
giờ học trở nên sôi nổi hơn, các đối tượng học sinh khác nhau cũng chủ động và 
hăng say học, tìm hiểu kiến thức lịch sử hơn. Từ đó, góp phần hình thành và phát 
triển năng lực và phẩm chất của học sinh như năng lực tư duy; năng lực năng lực 
ngôn ngữ; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực tái hiện các sự kiện, hiện tượng, 
nhân vật lịch sử; năng lực nhận xét, đánh giá sự kiện, nhân vật lịch sử tìm hiểu 
lịch sử, nhận thức và tư duy lịch sử, vận dụng ... HS tích cực thực hiện nhiệm vụ 
được giao và hỗ trợ bạn trong hoạt động nhóm; trình bày được ý kiến, sản phẩm 
của nhóm, đánh giá các sản phẩm của các bạn trong nhóm hoặc của nhóm khác; có 
thái độ hợp tác, chia sẽ, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động nhóm; biết phân tích, 
tóm tắt những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để hoàn thành nhiệm vụ được 
giao. Đồng thời thông qua từng bài học cụ thể để phát triển các phẩm chất như yêu 
nước (HS biết yêu thiên nhiên, yêu các di sản văn hóa trên thế giới cũng như ở 
Việt Nam qua đó, càng thêm tự hào và bảo vệ thiên nhiên, di sản văn hóa, con 
người); phẩm chất trách nhiệm (ý thức được bản thân phải có trách nhiệm trong 
việc bảo vệ thiên nhiên, di sản văn hóa và con người cũng như có tinh thần trách 
nhiệm khi tham gia vào hoạt động thảo luận nhóm); phẩm chất chăm chỉ (có cố 
gắng vươn lên trong quá trong thảo luận nhóm, học tập, có tinh thần tự học); phẩm 
chất trung thực (có tính chính xác, trung thực trong quá trình thảo luận nhóm, trong 
việc đánh giá các sản phẩm của các nhóm khác cũng như trong cuộc sống); phẩm 
chất nhân ái (yêu thương, giúp đỡ bạn bè, mọi người, yêu thiên nhiên, sẵn sàng học 
 15
tập, giúp đỡ các thành viên trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ) .đáp ứng được 
chương trình GDPT 2018 hiện nay.
 Với việc sử dụng 1 cách đa dạng các kĩ thuật dạy học tích cực trong hoạt động 
thảo luận nhóm bước đầu hình thành cho các em tư duy lô-gic khi học môn Lịch. 
Khi giáo viên yêu cầu trả lời một vấn đề nào đó, các em sẽ được định hướng bởi 
các câu hỏi tương ứng với các nội dung được hỏi. Tiết học đạt hiệu quả cao hơn rất 
nhiều so với cách dạy truyền thống là đọc chép hoặc một tiết dạy chỉ sử dụng bằng 
bài giảng điện tử cho học sinh nhìn chép; giúp HS ghi chép đầy đủ nội dung bài 
học để học ở nhà và ghi nhớ lâu kiến thức bài học, đồng thời bước đầu đã khắc 
phục được tình trạng “học vẹt”, học trước quên sau của học sinh vì HS được trực 
tiếp tham gia các hoạt động, tự khai thác và làm chủ kiến thức của bài học. 
 Trong quá trình hoạt động nhóm tất cả các thành viên trong nhóm đều phải 
động não, sáng tạo, chủ động tìm hiểu kiến thức theo yêu cầu của GV mà không ỉ 
nại 1 số bạn có học lực khá giỏi như trước đây, ý thức tự học của HS được nâng 
cao hơn, và hơn thế là qua việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực đã từng bước 
giúp các em có cái nhìn “thiện cảm” với môn Lịch sử, yêu thích và “tự giác” học 
môn Lịch sử hơn. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng học môn Lịch sử lớp 6 tại 
trường THCS TT Nham Biền 1
 Để có cơ sở đánh giá hiệu quả biện pháp được đề xuất, sau một thời gian học 
tập, tôi đã tiến hành kiểm chứng về thái độ và mức độ lĩnh hội kiến thức của học 
sinh thông qua phiếu tham khảo ý kiến học sinh năm học 2023-2024.
 PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN HỌC SINH
 Đồng ý Phân Không 
 TT Tiêu chí vân đồng ý
 HS % HS % HS %
 Giáo viên sử dụng 1 số kĩ thuật dạy học 
 1 trong hoạt động thảo luận nhóm tạo 123 93.2 9 6.8 0 0
 không khí lớp học sôi nổi
 Khi được giao nhiệm vụ trong các hoạt 
 2 động thảo luận nhóm, em rất thích thú 118 89,3 8 6,2 6 4,5
 và hào hứng
 Em có tham gia tích cực, đóng góp ý 
 3 120 91 6 4,5 6 4,5
 kiến vào các sản phẩm của nhóm 
 Sử dụng kĩ thuật dạy học vào dạy học 
 4 lịch sử giúp học sinh dễ hiểu và nhớ 121 91,6 6 4,5 5 3,8
 kiến thức lâu hơn.
 Em thích (mong muốn) giáo viên sử 
 dụng các kĩ thuật dạy học trong hoạt 
 5 122 92,5 9 6.8 1 0,75
 động thảo luận nhóm vào các tiết học 
 lịch sử 
 16
 Việc sử dụng các kĩ thuật dạy học trong 
 6 hoạt động nhóm vào tiết dạy học lịch sử 126 95,5 6 4,5 0 0
 là rất cần thiết và có giá trị.
 Khi tham gia hoạt động thảo luận nhóm, 
 7 125 94,7 5 3,8 2 1,5
 em có thấy mình mạnh dạn, tự tin hơn 
 Khi tham gia hoạt động thảo luận nhóm, 
 8 124 93,9 5 3,8 3 2,3
 em có trách nhiệm và trung thực 
 Như vậy, qua kết quả phiếu điều tra ta dễ dàng thấy được sự khác biệt của 
việc sử dụng các kĩ thuật dạy học vào hoạt động thảo luận nhóm trong bài dạy, 93 
% học sinh cho rằng sử dụng các kĩ thuật dạy học vào hoạt động thảo luận nhóm 
trong dạy học lịch sử có tác dụng thu hút sự chú ý của học, tạo không khí lớp học 
sôi nổi, giúp HS dễ hiểu và nhớ kiến thức; có 89,1 % HS cho rằng khi được giao 
nhiệm vụ trong các hoạt động thảo luận nhóm, các em rất thích thú và hào hứng; 
90,6 % HS tham gia tích cực, đóng góp ý kiến vào các sản phẩm của nhóm; 91,4 
% HS cho rằng việc sử dụng kĩ thuật dạy học vào dạy học lịch sử giúp các em dễ 
hiểu và nhớ kiến thức lâu hơn; 92,2% HS thích (mong muốn) giáo viên sử dụng 
các kĩ thuật dạy học trong hoạt động thảo luận nhóm vào các tiết học lịch sử; 94,5 
% HS cảm thấy khi tham gia hoạt động thảo luận nhóm, em có thấy mình mạnh 
dạn, tự tin, có tinh thần, trách nhiệm hơn trong quá trình thực hiện thảo luận nhóm.
 - Việc rèn luyện, nâng cao chất lượng môn học cho học sinh phải trải qua 
quá trình rèn luyện thường xuyên, liên tục. Thông qua việc theo dõi, kiểm tra việc 
hình thành các kĩ năng cơ bản của bộ môn, tôi mới có thể đưa ra kết quả chính xác 
nhất. Trong khuôn khổ của báo cáo, thời gian thực nghiệm ngắn nên tôi mới chỉ 
đánh giá được bước đầu sự chuyển biến trong thái độ cũng như khả năng nhận thức 
của các em HS lớp 6A1, 6A2, 6A3 trường THCS TT Nham Biền 1. 
 - Sau khi chấm bài theo thang điểm đã quy định, xếp loại học sinh theo các 
mức độ đã quy định (Tốt, Khá, Đạt, Chưa đạt), tôi đã phân tích và thấy được sự 
chênh lệch giữa học lực của học sinh qua bài kiểm tra đầu năm học và bài kiểm tra 
cuối học kì I. Điều này được thể hiện qua bảng thống kê sau:
 Điểm kết quả thực nghiệm
 Số Điểm tốt Điểm khá Điểm đạt Chưa đạt
 Khối 6
 HS (8 – 10) (6.5 < 8) (5<6.5) (0 < 5)
 HS % HS % HS % HS %
Trước khi thực hiện 
biện pháp (Kiểm tra 20 15.1 46 34.8 56 42.2 10 7.58
đầu năm học)
 132
Sau khi thực hiện 
biện pháp (Kiểm tra 32 24,2 65 49.2 35 26.5 0 0
cuối học kì I)
 17
 Qua bảng số liệu trên cho thấy: Sau khi thực hiện biện pháp thì chất lượng học 
tập của HS được nâng cao hơn thể hiện qua số liệu: tỉ lệ HS đạt điểm tốt chiếm 24,2 
% (trước khi thực hiện là 15,1 %); tỉ lệ HS có điểm khá chiếm 49,2 % (trước khi thực 
hiện là 34.8 %); tỉ lệ HS có điểm đạt chiếm 26.5 % (trước khi thực hiện là 43,8 %, 
giảm 42.2 %) và chưa đạt đã giảm so với trước khi thực hiện biện pháp là 7.58 %.
 Từ kết quả trên cho thấy chất lượng học tập ở lớp 6A1, 6A2, 6A3 sau khi thực 
hiện biện pháp cao hơn so với thời điểm trước khi thực hiện biện pháp, học sinh 
được phát huy tính tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động thảo luận nhóm; 
HS được trao đổi, tranh luận, phản biện .không khí lớp học sôi động, HS được 
thể hiện các năng lực của bản thân, mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài.
 Ngoài ra, biện pháp góp phần quan trọng trong việc thay đổi nhận thức, suy 
nghĩ, thái độ của các em học sinh như: 
 Đối với học sinh có học lực khá - giỏi: các em tích cực, hứng thú, hào hứng 
tham gia và thực hiện theo các yêu cầu của GV, giúp đỡ các bạn khác để cùng 
tham gia đạt hiệu quả góp phần vào việc hình thành và phát triển các năng lực như: 
giao tiếp-hợp tác, giải quyết vấn đề, tự chủ và một số các phẩm chất như trách 
nhiệm, chăm chỉ, trung thực, yêu nước 
 Đối với học sinh có học lực đạt và chưa đạt: các em không còn rụt rè, tự ti mà 
bước đầu đã chủ động tham gia và mạnh dạn xung phong trả lời các câu hỏi; cùng với 
các bạn có học lực khá – tốt thực hiện các hoạt động theo yêu cầu của giáo viên trong 
các hoạt động thảo luận nhóm, không còn ỷ lại vào những bạn khá- tốt trong nhóm.
 Qua quá trình thực nghiệm, bước đầu khẳng định tính khả thi của biện pháp. 
Khi được áp dụng thực hiện thường xuyên không những phát huy tính chủ động, 
tích cực của học sinh mà còn góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng 
dạy học bộ môn lịch sử ở trường THCS TT Nham Biền 1.
 * Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp (Tên, khối lượng, số lượng, thông số của 
sản phẩm (nếu có)): không
 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến (Nêu rõ về việc giải pháp 
đã được áp dụng, kể cả áp dụng thử trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật tại cơ sở 
và mang lại lợi ích thiết thực; ngoài ra có thể nêu rõ giải pháp còn có khả năng 
áp dụng cho những đối tượng, cơ quan, tổ chức nào): 
 - Bản thân đã áp dụng thường xuyên đối với các khối lớp từ năm học 2021-
2022 đến nay
 - Với giải pháp này, áp dụng hiệu quả trong việc dạy học đại trà ở môn Lịch 
sử 6 nói riêng, tất cả môn Lịch sử 7,8,9 nói chung vả các môn học trong điều kiện 
của trường THCS thị trấn Nham Biền số 1 cũng như các trường học khác trên địa 
bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang và cả nước 
 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến (Đánh giá lợi ích 
thu được hoặc dự kiến lợi ích có thể thu được do áp dụng giải pháp trong đơn kể 
cả áp dụng thử tại cơ sở):
 Quá trình thực hiện dạy học các biện pháp nêu trên đã mang lại các hiệu 
quả sau:
 18
 + Về hiệu quả giáo dục: Sáng kiến khi được áp dụng trong năm học 2021 – 
2022 đến 2023-2024 đã thực sự nâng cao chất lượng hiệu quả dạy và học môn lịch 
sử. Giờ học lịch sử đã cung cấp một lượng thông tin to lớn, thực sự tạo hứng thú 
học tập cho học sinh, giúp học sinh dễ ghi nhớ những nội dung, kiến thức cơ bản, 
phát triển kĩ năng học tập, chủ động cho học sinh, kích thích các em vận dụng các 
kiến thức đã học giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, từ đó các em phát triển toàn 
diện hơn về mọi mặt: đức - trí - thể - mĩ. 
 + Về lợi ích kinh tế: Việc áp dụng phương pháp dạy học trong dạy học lịch sử 
thực sự sẽ giúp tiết kiệm được thời gian học tập và chống sự nhàm chán trong học 
tập của học sinh, làm cho nội dung học tập sinh động, hấp dẫn hơn. Học tập lịch sử 
không phải máy móc để biết, hiểu và vận dụng kiến thức so với dạy học truyền 
thống. Giáo viên lên lớp đỡ vất vả và quan trọng hơn, nó sẽ giúp tiết kiệm một 
khoản kinh phí lớn để tái hiện lịch sử khi các trường học không có điều kiện tổ 
chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan các di tích, các bảo tàng lịch sử. 
 + Về lợi ích xã hội, môi trường: Vận dụng phương pháp dạy học tích cực sẽ 
thực sự tạo ra một môi trường “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”; hình 
thành cho học sinh ý thức tự giác, tự nguyện đề ra cho mình những quyết định 
đúng đắn, có ý thức trách nhiệm, có thái độ và hành động hợp lý về dân số, bảo vệ 
môi trường, tiết kiệm năng lượng qua việc rút ra các bài học lịch sử từ nội dung 
kiến thức đã học; từ đó có những hành vi nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của 
bản thân mình và gia đình, rộng hơn nữa là cộng đồng, quốc gia và thế giới.
 * Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và 
không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
 Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến
 (Chữ ký, dấu) (Chữ ký và họ tên)

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_su_dung_mot_so_ki_thuat_day_hoc_tich_cuc_trong_hoat_don.doc