Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp 1. Phần mở đầu 1.1. Lý do chọn sáng kiến Qua khảo sát thực tế cho thấy môn Vật lí được đưa vào học trong chương trình THCS. Con đường hình thành kiến thức Vật lí chủ yếu bằng con đường quy nạp thông qua các thí nghiệm do giáo viên hướng dẫn và học sinh tự làm, giáo viên giúp học sinh quan sát, phân tích các hiện tượng Vật lí rồi tự rút ra kết luận. Đó là quy luật mang tính lôgíc đúng đắn. Tuy nhiên do khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế nên học sinh lại ngại học môn Vật lí, coi nó là môn học khó, trừu tượng và kết quả học môn này chưa thực sự cao. Một số học sinh tỏ ra tiếp thu tốt và hiểu bài tại lớp song việc vận dụng kiến thức để làm các bài tập thực hành chưa tốt. Đồng thời việc áp dụng lý thuyết để giải thích các tình huống trong thực tế rất yếu; đặc biệt với học sinh khối 6 mới tiếp cận bộ môn, khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, phần lớn thụ động máy móc do việc vận dụng kiến thức vào thực tế chưa tốt . Đặc biệt đối với dạng bài tập xác định thành phần hỗn hợp, kiến thức thực tế rất gần gũi với các em học sinh đó là khi pha chế các nguyên liệu hay nhiên liệu để có hỗn hợp theo mục đích; phần lí thuyết đa số các em đều nắm được và nêu được sự vận dụng vào trong thực tế cuộc sống; nhưng ngược lại khi yêu cầu phải giải quyết các bài toán đòi hỏi kiến thức nâng cao thì các em còn rất bỡ ngỡ, không xác định được phương pháp hay các bước để giải quyết yêu cầu một cách nhanh chóng, đơn giản và đưa ra kết luận chính xác. Vì lý do trên, qua nhiều năm công tác với những hiểu biết và chút kinh nghiệm của bản thân, tôi mạnh dạn nêu lên một số suy nghĩ của mình với đề tài: “Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp”; với mong muốn sẽ đưa ra những giải pháp giúp các em học sinh và giáo viên đạt được kết quả cao hơn trong quá trình giảng dạy, ôn luyện học sinh giỏi các cấp. Ngoài ra, tôi cũng muốn tạo ra hướng đi mới trong việc tham khảo các loại sách bài tập nâng cao. 1 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp 1.2. Điểm mới trong sáng kiến Qua việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm, đề tài giúp định hướng cho học sinh cách giải bài tập Vật lí, kích thích khả năng độc lập suy nghĩ; rèn cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng linh hoạt lí thuyết vào thực tiễn cuộc sống và giải bài tập nâng cao. Đề tài còn góp phần phát triển tư duy sáng tạo của học sinh; thông qua các dạng bài tập do giáo viên đưa ra giáo viên rèn cho học sinh kĩ năng thực hành, luyện tập để giải một bài toán chặt chẽ, logic; kích thích sự tích cực độc lập suy nghĩ của học sinh tìm ra các cách giải hay, khoa học và áp dụng để giải quyết các bài toán khác. Đề tài được áp dụng cho học sinh khá, giỏi môn Vật lí trường THCS. 2. Phần nội dung 2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu Cũng như các bộ môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, môn Vật lí ở trường trung học cơ sở nói chung, dạng bài tập xác định thành phần hỗn hợp nói riêng là loại bài tập tương đối khó đối với học sinh mới học tập bộ môn vật lí THCS. Vậy làm thế nào để giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp dễ dàng hơn? Đó là câu hỏi đặt ra không chỉ riêng tôi mà là câu hỏi chung cho những giáo viên dạy bồi dưỡng môn Vật lí và cả các em học sinh lớp 6 trung học cơ sở. Trong những năm gần đây, phần bài tập xác định thành phần hỗn hợp xuất hiện trong các đề thi học sinh giỏi các cấp và chiếm từ 2 đến 4 điểm. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sách bài tập nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh nhưng qua tham khảo một số sách tôi nhận thấy, đa phần các sách này đều đưa ra các bài tập cụ thể và hướng dẫn giải. Các bài tập thuộc nhiều dạng khác nhau được đặt kế tiếp nhau, các bài tập cùng loại lại đặt cách xa nhau hoặc trong một quyển sách không làm nổi bật được phương pháp giải chung cho các dạng bài toán về xác định thành phần hỗn hợp. Chính vì cách viết sách như vậy dẫn đến việc các giáo viên trong quá trình giảng dạy rất mất nhiều 2 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp thời gian cho việc đầu tư trong một buổi dạy, còn học sinh làm bài tập một cách tràn lan và làm bài nào biết bài đó, không có phương pháp giải chung; nên kết quả học tập chưa đạt hiệu quả cao. Việc học tập trở nên khó khăn hơn và gây cho các em có nhiều nản chí khi muốn tự nâng cao kiến thức của mình. Kết quả khi chưa tiến hành đề tài: Sốlượng STT Lớp Giỏi Khá Trung bình Yếu HS 1 8A 10 1 10% 2 20% 4 40% 3 30% 2 8B 10 1 10% 4 40% 3 30% 2 20% 3 8C 20 6 30% 4 20% 10 50% 0 0 2.2. Kết quả, giải pháp 2.2.1. Xác định thành phần khối lượng trong hỗn hợp + Trong chương trình học chính khóa học sinh chỉ học được những kiến thức cơ bản sau: - Khối lượng của một mét khối một chất gọi là khối lượng riêng của chất đó. - Công thức tính khối lượng của một vật theo khối lượng riêng m D.V . Trong đó: + m là khối lượng ( kg ) + D là khối lượng riêng ( kg / m3 ) + V là thể tích ( m3 ) + Trong chương trình nâng cao thì học sinh phải được biết những kiến thức nâng cao sau: - Khi gặp dạng bài tập có n vật tham gia vào hỗn hợp thì khối lượng của hỗn hợp bằng tổng khối lượng các chất tham gia; thể tích hỗn hợp bằng tổng thể tích các chất tham gia vào hỗn hợp. Nếu hỗn hợp hai chất thì: m m1 m2 V V1 V2 3 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp Phương pháp: - Tóm tắt để biết đại lượng nào đã biết và đại lượng nào cần tính theo yêu cầu của đề bài. - Áp dụng công thức tính khối lượng theo khối lượng riêng. - Nếu có hai vật tham gia vào hỗn hợp thì ta suy ra đại lượng cần tính toán, sử dụng biến đổi toán học và đi giải hệ phương trình để tìm khối lượng của các chất tham gia. m m1 m2 m1 m2 V V1 V2 D1 D2 * Một số bài tập thường gặp Bài tập 1: Một thỏi hợp kim có thể tích 1 dm3 và khối lượng 9,850 kg tạo bởi bạc và thiếc. Xác định khối lượng của bạc và thiếc trong thỏi hợp kim đó? Biết rằng khối lượng riêng của bạc và thiếc lần lượt là 10500 kg/m3; 2700 kg/m3 Tóm tắt: mhh 9,85(kg) 3 3 3 V hh 1(dm ) 10 (m ) 3 Db D1 10500(kg / m ) 3 DTh D2 2700(kg / m ) m1 ? m2 ? Lời giải: Khối lượng của hỗn hợp là: m m1 m2 m1 m2 9,85 (1) Thể tích của hỗn hợp là: m1 m2 3 m1 m2 V V1 V2 10 2700m1 10500m2 28350 (2) D1 D2 10500 2700 Từ (1) và (2) ta có: m1 m2 9,85 4 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp 2700m1 10500m2 28350 Suy ra: m1= 9,625 (kg) m2= 0,225 (kg) Vậy khối lượng của bạc trong thỏi hợp kim là: 9,625 (kg) khối lượng của thiếc trong thỏi hợp kim là: 0,225 (kg) Bài tập 2: Người ta chế tạo một hợp kim có khối lượng riêng 5g/cm3 bằng cách pha trộn đồng có khối lượng riêng 8900 kg/m3 với nhôm có khối lượng riêng 2700 kg/m3. Hỏi tỉ lệ giữa khối lượng đồng và khối lượng nhôm cần pha trộn? Tóm tắt: 3 3 Dhh= 5(g/cm ) = 5000 (kg/m ) 3 DĐồng= D1=8900 (kg/m ) 3 DNhôm= D2= 2700 (kg/m ) m 1 ? m2 Lời giải: Khối lượng của hỗn hợp là: m m1 m2 (1) Thể tích của hỗn hợp là: V V1 V2 (2) Khối lượng riêng của hợp kim là: Áp dụng công thức: m m m m m m m D 1 2 5000 1 2 1 2 V V V m m m m 1 2 1 2 1 2 D1 D2 8900 2700 2403m1 2403m2 4450m2 1350m1 2047m2 1053m1 m 1 1,94 m2 5 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp m Vậy 1 1,94 m2 Bài tập 3: Tìm khối lượng thiếc cần thiết để pha trộn với 1 kg bạc, để được một hợp kim có khối lượng riêng 10000 kg/m 3 . Biết khối lượng riêng của bạc và thiếc là 10,5 g/cm3; 7,1 g/cm3. Tóm tắt: m1= 1 (kg) 3 3 D1= 7,1 (g/cm )= 7100 (kg/m ) 3 3 D2= 10,5 (g/cm )= 10500 (kg/m ) D= 10000 (kg/m3) m2= ? Lời giải: Khối lượng của hỗn hợp là: m m1 m2 (1) Thể tích của hỗn hợp là: V V1 V2 (2) Khối lượng riêng của hợp kim là: m m m m m m m D 1 2 10000 1 2 1 2 V V V m m m m 1 2 1 2 1 2 D1 D2 7100 10500 7455m1 7455m2 10500m2 7100m1 355m2 3045m1 m1 355 m2 8,75(kg) m2 3045 Vậy m2= 8,75 kg. Bài tập 4: Một miếng than là hợp kim của đồng và kẽm. Hỏi trong miếng than có khối lượng 124,5 g chứa bao nhiêu đồng và bao nhiêu kẽm .Biết rằng khối lượng riêng của đồng là 8900kg/m3, của kẽm là 7100kg/ m3 của than là 8300kg/m3 Tóm tắt: 6 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp mhh 124,5(g) 0,1245(kg) 3 D hh 8300(kg / m ) 3 DCu D1 8900(kg / m ) 3 Dk D2 7100(kg / m ) m1 ? m2 ? Lời giải: Khối lượng của hỗn hợp là: m m1 m2 m1 m2 0,1245 (1) Thể tích của hỗn hợp là: m1 m2 0,1245 m1 m2 V V1 V2 7100m1 8900m2 947,85 (2) D1 D2 8300 8900 7100 Từ (1) và (2) ta có: m1 m2 0,1245 7100m1 8900m2 947,85 Suy ra: m1= 0,089 (kg) m2= 0,0355 (kg) Vậy khối lượng của bạc trong thỏi hợp kim là: 0,089 (kg) khối lượng của thiếc trong thỏi hợp kim là: 0,0355 (kg) 2.2.2. Xác định thành phần thể tích trong hỗn hợp Dạng bài toán tìm thành phần thể tích trong hỗn hợp thường ẩn dưới dạng tìm thể tích phần rỗng trong một vật hay tính thể tích các chất trong một hỗn hợp chất. Học sinh thường khó xác định phương hướng giải quyết bài toán nếu chỉ thông qua công thức tính toán các đại lượng trong công thức: m= D.V rồi suy diễn ra công thức tính các đại lượng. Giáo viên cần định hướng cho học sinh biết so sánh độ lớn của đại lượng tính toán được theo công thức và giá trị thực của đại lượng vật lý thể tích. Từ đó giải quyết yêu cầu bài toán. * Phương pháp: 7 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp - Học sinh cần tóm tắt bài toán để nắm được các đại lượng đã biết và các đại lượng nào yêu cầu tính toán. Bên cạnh đó học sinh cần chú ý đổi đơn vị các đại lượng vật lý về đơn vị chuẩn. - Tính thể tích của vật hay hỗn hợp theo công thức: m V . Từ đó so sánh với thể tích thực để rút ra câu trả lời. D * Một số bài tập thường gặp Bài tập 1: Một thỏi sắt có thể tích 200 cm3 và có khối lượng 1,2 kg. Hỏi thỏi sắt này đặc hay rỗng? Tính thể tích phần rỗng nếu có. Khối lượng riêng của sắt là 7800 kg/m3. * Tóm tắt: 3 -4 3 Vthực= 200 cm = 2. 10 (m ) m= 1,2 (kg) D= 7800 (kg/m3) Vrỗng=? * Lời giải: Thể tích của sắt là Áp dụng công thức: m 1,2 V 1,5.10 4 (m 3 ) D 7800 Vthực> V. Suy ra thỏi sắt này rỗng. Thể tích phần rỗng là -4 -4 -4 3 Vrỗng= Vthực- V= 2.10 - 1,5.10 = 0,5.10 (m ) Bài tập 2: Một thỏi nhôm có thể tích 500 cm3 và có khối lượng 1 kg. Hỏi thỏi nhôm này đặc hay rỗng? Tính thể tích phần rỗng nếu có. Khối lượng riêng của nhôm là 2700 kg/m3. * Tóm tắt: 3 -4 3 Vthực= 500 cm = 5. 10 (m ) 8 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp m= 1 (kg) D= 2700 (kg/m3) Vrỗng=? * Lời giải: Thể tích của nhôm là Áp dụng công thức: m 1 V 3,7.10 4 (m 3 ) D 2700 Vthực> V. Suy ra thỏi nhôm này rỗng. Thể tích phần rỗng là -4 -4 -4 3 Vrỗng= Vthực- V= 5.10 - 3,7.10 = 1,3.10 (m ) Bài tập 3: Một thỏi kim loại đặc màu vàng có m= 350 g, V= 20 cm3. Biết khối lượng 3 3 riêng của vàng D1= 19,3 g/cm , của bạc là D2= 10,5 g/ cm . Chứng minh rằng đó không phải là thỏi vàng nguyên chất.. Biết thỏi kim loại đó gồm vàng và bạc. Tính khối lượng vàng có trong thỏi hợp kim đó? * Tóm tắt: m= 350 g V= 20 cm3 3 D1= 19,3 g/cm 3 D2= 10,5 g/ cm m1=? * Lời giải: Khối lượng riêng của thỏi kim loại là Áp dụng công thức: m 350 D 17,5(g / m 3 ) V 20 Nhân thấy: D< D1. Vậy thỏi kim loại không phải thỏi vàng nguyên chất Khối lượng của hỗn hợp là: m m1 m2 m1 m2 350 (1) 9 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp Thể tích của hỗn hợp là: m1 m2 m1 m2 V V1 V2 20 (2) D1 D2 19,3 10,5 Từ (1) và (2). Giải hệ phương trình ta được: m1= 307,04 (g) m2= 42, 96 (g) Vậy khối lượng vàng có trong hợp kim là: 307, 04 (g) 2.2. 3. Xác định khối lượng riêng của hỗn hợp Đây là dạng bài tập học sinh cũng dễ gặp lúng túng trong quá trình phân tích bài toán. Để giải bài toán xác định thành phần khối lượng riêng cần dựa vào các mối quan hệ tỉ lệ, hay dựa vào sự chênh lệch về thể tích trước và sau khi tiến m hành thí nghiệm Từ đó học sinh có được kết quả và thay vào biểu thức: D . V Sau đó rút ra kết luận. * Phương pháp: - Đầu tiên học sinh cần tóm tắt bài toán. Đổi đơn vị của các đại lượng sao m cho phù hợp với các đại lượng có trong công thức: D V - Phân tích đề bài: tìm ra mối quan hệ giữa thể tích trước và sau khi tiến hành thí nghiệm, mối quan hệ tỉ lệ của khối lượng, khối lượng riêng của các thành phần trong hỗn hợp m - Áp dụng công thức tính D để xác định khối lượng riêng V * Một số bài tập thường gặp Bài tập 1: Cho 1 hợp kim gồm 60% đồng và 40% nhôm . Tìm khối lượng riêng của hợp kim biết khối lượng riêng của đồng là 8,92g/ cm 3 và khối lượng riêng của nhôm là 2,7g/ cm3 (tỉ lệ trên đựơc tính theo khối lượng và khối lượng riêng) * Tóm tắt: m1= 60%m m2= 40%m 10 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp 3 D1= 8,92 g/cm 3 D2= 2,7 g/cm D=? * Lời giải: Khối lượng của hỗn hợp là: 3 m m m m m 1 2 1 2 2 Thể tích của hỗn hợp là: m1 m2 V V1 V2 D1 D2 Khối lượng riêng của hợp kim là Áp dụng công thức: 3 m m m m m 2 2 D 1 2 2 V V1 V2 3 m2 m2 2D1 D2 5D D D 1 2 3D2 2D1 Thay số ta được: D= 4,6 g/cm3 Vậy khối lượng riêng của hợp kim là: 4,6 (g/cm) Bài tập 2: Đặt một bình chia độ lên bàn cân tự động thấy kim cân này chỉ vạch 125g. Đổ vào bình chia độ 250 cm3 dầu hỏa, thấy kim cân chỉ đúng vạch 325 g. a, Xác định khối lượng riêng của dầu hỏa? b, Xác định thể tích của thủy tinh dùng làm bình chia độ? Biết khối lượng riêng của thủy tinh là 2500 kg/m3. * Tóm tắt m1= 125 (g)= 0,125 (kg) m2= 325 (g)= 0,325 (kg) 3 3 Vdh=250 (cm )= 0,00025 (m ) 11 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp a, Ddh= ? 3 b, Dtt= 2500 (kg/m ) Vtt= ? * Lời giải: a, Xác định khối lượng riêng của dầu hỏa mdh ADCT: Ddh (1) Vdh Tính khối lượng của dầu hỏa: mdh= m2 – m1. (2) Thay (2) vào (1) ta tính được khối lượng riêng của dầu hỏa mdh m2 m1 0,325 0,125 3 Ddh 800(kg / m ) Vdh Vdh 0,00025 b, Thể tích thủy tinh là: m m 0,125 ADCT: D V 0,00005(m3 ) 50(cm3 ) V D 2500 2.2.4. Bài tập luyện tập: Bài 1: Một mẩu hợp kim thiếc- chì có khối lượng 664g, có KLR 8,3 g/ cm3. Hãy xác định khối lượng của thiếc và chì có trong hợp kim. Biết khối lượng riêng của thiếc và chì là 7,3g/ cm 3; 11,3g/ cm3. và coi rằng thể tích của hợp kim bằng tổng thể tích các kim loại thành phần. Bài 2: Người ta dùng một bình để đo khối lượng riêng của thủy tinh hạt bằng cách dùng cân thực hiện một số phép đo và thu được kết quả như sau: - Khối lượng bình không (chưa đựng gì): m1 = 26,5g - Khối lượng bình có chứa thủy tinh hạt: m2 = 61,5g. - Khối lượng bình có chứa số hạt thủy tinh kể trên và được đổ đầy nước: m3 = 97g. - Khối lượng bình chỉ chứa đầy nước: m4 = 76g.Dựa vào các kết quả trên hãy 12 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp tính khối lượng riêng của thủy tinh. Biết khối lượng riêng của nước là Do = 1g/cm3. Bài 3: Tính V, m, D của 1 vật rắn biết khi thả vật đó chìm hoàn toàn vào bình đầy nước thì khối lượng cả bình tăng 21,75 g. Khi thả vào 1 bình đầy dầu thì khối lượng cả bình tăng 51,75 g. Cho KLR của nước và dầu lần lượt là 1 kg/ dm3; 0,9 g/ cm3. Bài 4 Đổ 1 lít nước vào 0,5 lít rượu rồi khuấy đều ta thấy thể tích của hỗn hợp giảm 0,4 % thể tích tổng cộng. Tính khối lượng riêng của hỗn hợp biết khối 3 3 lượng riêng của nước và rượu lần lượt là D1= 1000 kg/m ; D2= 800 kg/ m . Bài 5 a, Một vật bằng nhôm hình trụ có thể tích 251,1 cm 3. Tính khối lượng của hình trụ biết KLR của nhôm là 2,7 g/cm3. b, Một vật khác có thể tích như thế nhưng khi treo lên lực kế thì lực kế chỉ 19,6 N. Vật ấy đc làm bằng nguyên liệu gì? c, Một vật bằng nhôm hình cầu có bán kính 2 cm. Tính khối lượng của vật? Bài 6: Tìm tỉ lệ thể tích của nước và rượu sao cho hỗn hợp nước và rượu KLR là 900 kg/ m3. Biết KLR của nước và rượu lần lượt là: 1000 kg/m3; 800 kg/m3 Bài 7: Một mẩu hợp kim thiếc- chì có khối lượng 664g, có KLR 8,3 g/ cm 3. Hãy xác định khối lượng của thiếc và chì có trong hợp kim. Biết khối lượng riêng của thiếc và chì là 7,3g/ cm3; 11,3g/ cm3. và coi rằng thể tích của hợp kim bằng tổng thể tích các kim loại thành phần. Bài 8: Một cốc đựng đầy nước có khối lượng tổng cộng là 260 g. Người ta thả vào cốc 1 viên sỏi có khối lượng 28,8 g. Sau đó đem cân thì thấy tổng khối 13 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp lượng là 276,8g. Tính khối lượng riêng của sỏi biết khối lượng riêng của nước là 1g/cm3. * Kết quả thực tiễn Bằng phương pháp giảng dạy cụ thể, với hệ thống câu hỏi từ bài tập đơn giản đến nâng cao; nhằm đưa các em vào tình huống có vấn đề, từ đó các em chủ động, tự tin và sáng tạo về mặt kiến thức xác định thành phần hỗn hợp. Các em học sinh dần có hứng thú và say mê bộ môn Vật lí hơn, tỉ lệ điểm kiểm tra khá giỏi tăng lên, yếu kém giảm đi. Cụ thể: Kết quả khi tiến hành thực hiện đề tài: Số STT Lớp lượng Giỏi Khá Trung bình Yếu HS 1 8A 10 4 40% 3 30% 3 30% 0 0 2 8B 10 5 50% 3 30% 2 20% 0 0 3 8C 20 10 50% 6 30% 4 20% 0 0 3. Kết luận 3.1. Ý nghĩa, khả năng ứng dụng và nhân rộng Thông qua việc phân loại chi tiết về từng dạng bài tập thuộc phần kiến thức trọng tâm về giải bài toán xác định thành phần hỗn hợp đã giúp học sinh có thái độ tích cực, tự giác tìm tòi lời giải sáng tạo cho mỗi bài toán cụ thể. Đến buổi bài tập hay chuyên đề học sinh giỏi, giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh trình bày được lời giải chi tiết, tường minh cho các bài toán. Nhiều học sinh có thể cùng tham gia giải một bài toán, kích thích được khả năng độc lập, sáng tạo của học sinh. Giúp cho học sinh có cái nhìn tổng quát về phương pháp giải bài tập Vật lí nói chung và giải bài tập phần hỗn hợp chất nói riêng; tạo hứng thú, say mê học tập bộ môn Vật lí. Bên cạnh đó giúp các em học sinh lớp 6 và lớp 8 có kĩ năng tìm hiểu bài, phân tích bài toán và phương pháp giải bài tập Vật lí; tạo 14 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp niềm tin cho các em khi ôn luyện các phần kiến thức nâng cao tiếp theo của chương trình Vật lí lớp 9 và Vật lí THPT. Đề tài áp dụng cho tất cả các giáo viên đang giảng dạy bộ môn Vật lí trung học cơ sở; đặc biệt là các đồng chí dạy đội tuyển học sinh giỏi. Đề tài còn áp dụng cho các học sinh thuộc đội tuyển học sinh giỏi tham dự các kì thi môn Vật lí ở trường và các học sinh có nhu cầu nâng cao kiến thức phần giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp. 3.2. Hiệu quả kinh tế- xã hội sáng kiến mang lại * Đối với học sinh Học sinh có lòng say mê học tập bộ môn Vật lí, dành nhiều thời gian nghiên cứu, tự lực học tập, tư duy cá nhân giải các bài toán khó, dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh có thể xây dựng kế hoạch học tập bộ môn khi được lựa chọn vào đội tuyển học sinh giỏi. * Triển vọng vận dụng và phát triển Qua việc nghiên cứu đề tài từ đầu năm đến nay, với những kết quả đạt được như trên, tôi thấy đề tài có tính thực thi cao. Tôi tin rằng với học sinh lớp 6, lớp 8 sau khi đã được hướng dẫn, luyện tập, thực hành, các em hình thành và phát triển kĩ năng, kĩ xảo, khả năng độc lập tư duy để lĩnh hội tiếp những đơn vị kiến thức có liên quan trong chương trình Vật lí lớp 9 và Vật lí THPT. Nếu có điều kiện, được sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, tổ chuyên môn và bạn bè đồng nghiệp thì đề tài của tôi có thể được phát triển cao hơn trong phần cơ học của trung học phổ thông và thực tế của ngành nghề liên quan tới pha chế hợp chất. 3.3. Những đề xuất, kiến nghị 3.3.1. Đối với nhà trường Qua quá trình thực hiện đề tài này tôi cũng mong nhà trường, các cấp lãnh đạo cần quan tâm nhiều hơn cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi cũng như thời gian dạy bồi dưỡng; các trang thiết bị có liên quan trong quá trình giảng dạy phần cơ học trong chương tình Vật lí lớp 6, lớp 8 và học sinh giỏi Vật lí lớp 9. 15 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp Có như vậy kết quả chất lượng mũi nhọn mới ngày càng được nâng cao và khẳng định được chất lượng thực giáo dục học sinh. 3.3.2. Đối với giáo viên bộ môn Với giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lí, ngay từ đầu năm giáo viên cần lựa chọn, phân loại đối tượng học sinh khá giỏi; các em có khả năng, có tố chất học tập tốt bộ môn Vật lí. Giáo viên cần lên lịch học tập cụ thể, sau thời gian học tập có bài khảo sát để khẳng định được quá trình học tập tiếp thu của học sinh. 3.3.3. Đối với học sinh Đối với học sinh của đội tuyển học sinh giỏi bộ môn vật lí cần dành nhiều thời gian học tập hơn nữa; ngoài sự dẫn dắt theo hệ thống bài tập từ dễ đến khó của giáo viên, học sinh cần tự tìm tòi thêm các bài tập, tham khảo các phương pháp giải khác nhau của cùng một bài toán để có thể tư duy linh hoạt trong quá trình giải đề thi, không chỉ đi theo một lối mòn do giáo viên định hướng. Trên đây là toàn bộ sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung của người khác; bản thân tôi đã giảng dạy và rút kinh nghiệm. Với những gì đã làm được, tôi cảm thấy kết quả còn khiêm tốn. Do đó đề tài này có thể chưa được hoàn hảo và còn nhiều hạn chế nhất định, tôi rất mong được ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, các anh chị và bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường đóng góp ý kiến để đề tài này hoàn thiện hơn và áp dụng vào giảng dạy đạt kết quả cao hơn . Tôi xin chân thành cảm ơn! Ngày tháng 4 năm 2019 Ngày 16 tháng 4 năm 2019 CƠ QUAN CHỦ TRÌ SÁNG KIẾN TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Nguyễn Văn Thắng 16 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập xác định thành phần hỗn hợp 17 Nguyễn Văn Thắng- THCS Thị trấn Neo Năm học: 2018- 2019
Tài liệu đính kèm: