SKKN Một số giải pháp gây hứng thú giúp học sinh khối Lớp 6 - Trường THCS Trí Yên học tốt môn Âm nhạc - Năm học 2018-2019

doc 34 trang Người đăng Liễu Như Yên Ngày đăng 20/03/2026 Lượt xem 2Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số giải pháp gây hứng thú giúp học sinh khối Lớp 6 - Trường THCS Trí Yên học tốt môn Âm nhạc - Năm học 2018-2019", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BẮC GIANG
 HỘI THI GVDG CẤP TỈNH, CẤP TRUNG HỌC 
 VÒNG 3, CHU KÌ 2016- 2019
 ===========
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÂY HỨNG THÚ GIÚP HỌC 
 SINH KHỐI LỚP 6 - TRƯỜNG THCS TRÍ YÊN
 HỌC TỐT MÔN ÂM NHẠC ”
 Giáo viên dự thi : Phạm Văn Bình
 Môn : Âm nhạc
 Trường : Trung học cơ sở Trí Yên 
 Huyện / TP : Huyện Yên Dũng - Tỉnh Bắc Giang
 Yên Dũng, tháng 12 năm 2018.
 MỤC LỤC
 1 Trang:
1.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn SKKN ..1
1.2. Điểm mới của SKKN 1
1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ của SKKN 2-3
1.4. Đối tượng nghiên cứu ...3
1.5. Thời gian và phạm vi nghiên cứu .3
1.6. Phương pháp nghiên cứu ..3
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí thuyết 4-5
2.2. Cơ sở thực tiễn ...5-6
2.3. Thực trạng vấn đề ..6-7
2.4. Những biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề .. .8-21
3. KẾT LUẬN
3.1. Kết quả nghiên cứu SKKN .21-23
3.2. Ý nghĩa, phạm vi áp dụng SKKN 24
3.3. Kiến nghị đề xuất ...24-25
 1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn sáng kiến 
 2 Âm nhạc là một môn nghệ thuật của âm thanh , có tính truyền cảm trực tiếp 
đến các giác quan của con người. . Âm nhạc có ảnh hưởng lớn đến đời sống con 
người. Các nghiên cứu đã chỉ ra, âm nhạc có tác dụng tốt, kích thích sự phát 
triển trí não. Do đó người ta khuyên cho trẻ nghe nhạc để phát triển trí tuệ của 
chúng. Trong chiến tranh, âm nhạc được biết đến như một sức mạnh tinh thần cho 
đồng đội: "Tiếng hát át tiếng bom". Chỉ trong giây lát, âm nhạc có thể làm cho con 
người chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, ví dụ như vui, buồn, phấn 
chấn...
 Việc dạy học Âm nhạc trong trường trung học cơ sở không nhằm đào tạo 
những người làm nghề âm nhạc, những diễn viên, những nhạc sĩ, ca sĩ chuyên 
nghiệp mà chính là qua môn học để tác động vào đời sống tinh thần của các em 
góp phần cùng với môn học khác thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ 
thông cũng như mục tiêu của bậc học. 
 Đặc biệt giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông là một trong bốn mặt 
giáo dục quan trọng nhất: Đức - Trí- Thể -Mĩ. Cái đẹp trong nghệ thuật Âm nhạc 
xuất phát từ tác phẩm, từ nghệ thuật trình diễn tạo nên những hình tượng Âm nhạc 
có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ làm rung động lòng người, hướng con người tới 
Chân- Thiện -Mĩ 
 Xuất phát từ đặc trưng bộ môn thuộc phạm trù nghệ thuật đòi hỏi sự hứng thú 
 cao.
 Xuất phát từ yêu cầu của việc đổi mới phương pháp là phát huy tính tích cực 
 chủ động sáng tạo của học sinh. Có như vậy các em mới có điều kiện khắc phục 
 khó khăn tiếp nhận kiến thức mới.
 Xuất phát từ tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 6 là lứa tuổi nhạy cảm ,hiếu động, 
ham thích ca hát. Nếu giáo viên gây được hứng thú trong bài dạy sẽ tạo cho học 
sinh sự phấn chấn, hào hứng để tiếp thu bài học một cách có hiệu quả.
 Từ những lý do nói trên, bản thân tôi nhận thấy việc gây hứng thú cho học 
 sinh trong học tập Âm nhạc là một trong những giải pháp hết sức quan trọng góp 
 3 phần nâng cao chất lượng dạy và học. Vì vậy nó là động lực giúp tôi đi sâu nghiên 
 cứu đúc rút kinh nghiệm này.
1.2. Điểm mới trong sáng kiến 
 Sáng kiến đã chỉ ra được những yêu cầu, áp dụng lý luận vào thực tiễn dạy 
học. Từ những hạn chế thực trạng cơ sở tôi đã đề xuất được các giải pháp cụ thể 
nhất là phát huy được năng lực học tập của tất cả các đối tượng học sinh trong lớp. 
Đề xuất được các phương pháp mới hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học. 
Khắc phục được những hạn chế của phương pháp cũ. Học sinh lĩnh hội kiến thức 
một cách nhanh nhất và hiệu quả. Cụ thể là:
 + HS tiếp thu bài một cách tích cực, chủ động trong mọi tình huống sư phạm.
 + HS thực hiện yêu cầu bài học sáng tạo, khoa học không bị gò bó nhồi nhét.
 + HS tự tin khi trình bày các tác phẩm trước đám đông phát huy các khả năng 
 thiên bẩm mà không cần sự áp đặt của GV.
 + HS thực sự cảm nhận được sự khác biệt giữa việc học môn Âm nhạc với các 
 môn khoa học khác.
 + HS thêm yêu thích môn học hơn, tích cực hoạt động trong các phong trào 
 văn hóa văn nghệ của trường chào mừng các ngày lễ lớn trong năm.
1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ của sáng kiến 
 Xuất phát từ mục đích của SKKN, những điểm mới và điểm khác của SKKN 
 so với những giải pháp cũ trước đây. Đề tài tôi lựa chọn với mong muốn đóng góp 
 vào việc nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho học sinh khối lớp 6 ở 
 trường THCS Trí Yên sao cho đạt hiệu quả tốt nhất, đáp ứng mục tiêu giáo dục, 
 nâng cao chất lượng học tập và học sinh thêm yêu thích môn học hơn.
 Giúp giáo viên có những phương pháp dạy học hiệu quả nhất để phát huy 
tính chủ động và sáng tạo của HS. 
 4 Qua việc hướng dẫn học hát, học nhạc, giáo dục cho các em có tình cảm, 
đạo đức trong sáng, lành mạnh, hướng tới những điều thiện và cái đẹp trong cuộc 
sống .
 Xây dựng khả năng tham gia hoạt động Âm nhạc, giúp cho việc phát triển 
toàn diện ,cân bằng và hài hoà.
 Phát hiện những học sinh có năng khiếu về Âm nhạc, động viên và giúp các 
em phát triển năng khiếu của mình.
 Xuất phát từ những lý do và niềm hứng thú đó cá nhân đi vào nghiên cứu 
một đề tài hết sức lý thú và không có tham vọng gì hơn ngoài việc trình bày những 
kinh nghiệm trong những năm qua đứng trên bục giảng, giảng dạy bộ môn âm 
nhạc, việc đi vào tìm hiểu, đánh giá việc dạy và học môn âm nhạc là điều cần thiết 
góp phần nâng cao chất lượng dạy học .
1.4. Đối tượng nghiên cứu
 Học sinh khối lớp 6 - Trường trung học cơ sở Trí Yên - Huyện Yên Dũng.
1.5. Thời gian và phạm vi nghiên cứu 
 Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ tập chung nghiên cứu đưa ra một số 
giải pháp gây hứng thú học tập môn Âm nhạc cho học sinh khối lớp 6 - Trường 
THCS Trí Yên - Huyện Yên Dũng - Tỉnh Bắc Giang từ tháng 9 năm 2017 đến 
tháng 5 năm 2018.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
 Để giải quyết những nhiệm vụ , những vấn đề chỉ ra trong bản sáng kiến kinh 
nghiệm này , tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau :
 1. Phương pháp khảo sát.
 2. Phương pháp thực nghiệm.
 3. Phương pháp so sánh.
 4. Phương pháp phân tích , tổng hợp đánh giá khái quát.
 5 2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
 Như chúng ta đã biết Âm nhạc có vai trò rất lớn đối với con người , Âm nhạc 
 đem đến những khoái cảm thẩm mỹ cao, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong 
 cuộc sống của con người.
 Trong những năm qua, từ khi nước ta bước sang thế kỷ XXI, sự nghiệp giáo 
 dục đào tạo Âm nhạc có điều kiện phát triển những bước cao hơn. Cho đến ngày 
 nay việc đưa Âm nhạc vào học đường đã được chú trọng vì những lợi ích quan 
 trọng của nó trong việc giáo dục học sinh thành những con người toàn diện.
 Bởi vậy việc dạy Âm nhạc ở trường THCS mặc dù không nhằm đào tạo các em 
thành những con người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp mà chủ yếu là giáo dục 
văn hoá Âm nhạc, làm cho các em yêu thích nghệ thuật Âm nhạc, hình thành ở học 
sinh một tâm hồn trong sáng, một thị hiếu Âm nhạc lành mạnh, cách tư duy sắc sảo, 
lòng khát khao sáng tạo, giàu tình cảm nhanh nhẹn hoạt bát và sống lành mạnh, vui 
tươi. Âm nhạc phát triển tối đa những tố chất tâm sinh lí, những phẩm chất tâm lí của 
lứa tuổi học sinh, tạo điều kiện để các em hoàn chỉnh và cân đối về tâm hồn, trí tuệ và 
thể chất, làm phong phú tình cảm của lứa tuổi học trò.
 Mặt khác qua đó phát triển bồi dưỡng những mầm non nghệ thuật cho tương 
lai đất nước. Đây là một môn học còn rất mới mẻ không giống những môn học 
khác, môn học mang tính nghệ thuật cao, học sinh học theo phương châm học vui - 
vui học. Vì vậy tạo cho các em say mê hứng thú học tập là rất cần thiết.
 Ta biết rằng bất kì làm việc gì nếu có hứng thú thì sẽ đi đến thành công, đặc 
 biệt là đối với học sinh do đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi các em. Nếu thích thú 
 thì các em sẽ làm tốt, khi hoạt động nhận thức của học sinh dựa trên cơ sở của 
 hứng thú nó sẽ trở nên hào hứng, thoải mái và dễ dàng. 
 Hứng thú trong học tập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, nuôi dưỡng ở 
các em lòng ham muốn chính đáng trong việc không ngừng vươn tới những đỉnh 
 6 cao của việc nắm kiến thức, luôn tìm tòi học tập cái mới tích cực sáng tạo, biết vận 
dụng cái đã học vào hoạt động thực tiễn.
 Môn học nào cũng có khả năng gây hứng thú cho học sinh. Âm nhạc bản 
thân nó cũng là nguồn cảm hứng, tạo cho các em hứng thú trong học tập môn Âm 
nhạc không chỉ nâng cao hiệu quả dạy học mà còn làm cho các em vui tươi phấn 
khởi thoải mái về tinh thần.
 Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Âm nhạc ở trường THCS, bản thân tôi 
nhận thấy đó là một trong những yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết .
2.2. Cơ sở thực tiễn
 Lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở đang ở giai đoạn có sự biến đổi mạnh mẽ 
về tâm sinh lí, trí tuệ, tình cảm. các nhà nghiên cứu chuyên môn gọi đây là lứa tuổi 
"me xanh", tuổi "ổi ương bất trị". Những thay đổi đó khiến các em có cảm giác 
mình đã lớn và muốn được coi là người lớn. Nếu cha mẹ, thầy cô yêu cầu các em 
phải thế này, phải thế nọ thì dường như chỉ phản tác dụng. Nhưng nếu để các em tự 
tìm hiểu, tự nhận thức, rồi tự xác định được con đường đúng, con đường sai tự 
mình đặt chân lên thì lại rất quyết tâm, tự tin thực hiện tới đích
 Thực tế những năm gần đây xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển, với sự 
hội nhập, sự phát triển của khoa học công nghệ, các vấn đề xã hội cũng đến với các 
em khá nhanh và ảnh hưởng không nhỏ đến các em. Thiết nghĩ bao sự việc, hiện 
tượng cập nhật, nóng hổi nếu các em không có cái nhìn, sự đánh giá đúng. không 
định hình cho mình những bài học kinh nghiệm sẽ rất dễ dẫn đến sai lầm.
 Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Âm nhạc ở trường THCS Trí Yên, 
huyện Yên Dũng.Từ thực tiễn giảng dạy cũng như việc học Âm nhạc của học sinh, 
trong nhiều năm qua thầy và trò trường THCS Trí Yên gặp không ít khó khăn 
trong qúa trình dạy học và đã làm mọi cố gắn để nâng cao chất lượng dạy-học môn 
Âm nhạc và điều quan trọng nhất mà tôi tâm huyết đó là nếu giáo viên tạo được 
 7 hứng thú trong giảng dạy và học tập sẽ giúp cho học sinh say sưa hơn trong quá 
trình học tập và sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn.
 Ngay từ đầu năm học 2017-2018, bằng phương pháp thăm dò ý kiến và khảo 
sát chất lượng đầu năm. kết quả cụ thể thu được như sau :
 Kết quả đạt được
 Lớp Số HS Đ % CĐ %
 6A 25 19 76,0 6 24,0
 6B 22 17 77,2 5 22,8
 Qua số liệu thu được, tôi nhận thấy tỷ lệ học sinh đạt loại Giỏi và loại Khá rất 
ít, tỷ lệ học sinh đạt loại Trung bình chiếm đa số,tỷ lệ học sinh chưa đạt còn cao . 
Nguyên nhân là do các em chưa thích học bộ môn , chưa gây được hứng thú học 
tập cho học sinh. Một số HS chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn học, 
thậm chí còn xem nhẹ vì cho rằng Âm nhạc là môn học phụ, không cần thiết. 
 Từ những lý do nói trên, bản thân tôi nhận thấy việc gây hứng thú cho học 
sinh trong học tập Âm nhạc là một trong những giải pháp hết sức quan trọng góp 
phần nâng cao chất lượng dạy và học. Vì vậy nó là động lực giúp tôi đi sâu nghiên 
cứu đúc rút kinh nghiệm này.
2.3. Thực trạng của vấn đề
 * Thuận lợi
 - Âm nhạc là một môn học độc lập trong chương trình THCS. Dạy và học 
nghiêm túc, có kiểm tra, thi đánh giá cuối năm và kết quả là một trong những tiêu 
chuẩn để xét lên lớp hay tốt nghiệp bậc học. 
 - Nhà trường và Ban giám hiệu luôn quan tâm thường xuyên và tạo mọi điều 
kiện thuận lợi cho việc dạy và học môn Âm nhạc như : Phòng học bộ môn riêng, 
đồ dùng dạy học khá đầy đủ : Bảng phụ khuông nhạc , tranh ảnh trực quan, băng 
đĩa nhạc mẫu và đàn Ghi ta Nhà trường cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho 
giáo viên dạy Âm nhạc đi học tập, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ 
 8 - Phòng học bộ môn có trang bị máy tính , màn chiếu, loa nghe nhạc và có 
kết nối mạng Internet thuận lợi cho việc tìm kiếm thông tin phục vụ giảng dạy môn 
Âm nhạc.
 - Giáo viên nắm chắc về chuyên môn, tích cực tìm tòi, nghiên cứu những 
phương pháp mới để vận dụng trong quá trình giảng dạy.
 - Học sinh trường THCS Trí Yên đa số là ngoan ngoãn, lễ phép. Nhiều em 
rất yêu thích môn Âm nhạc. Đặc biệt là phân môn hát. Học sinh cảm nhận giai điệu 
các bài hát khá tốt. Thực hiện các bài hát với đàn hoặc đĩa tương đối tốt.
* Khó khăn - Hạn chế
 - Một số đồ dùng phục vụ dạy học môn Âm nhạc còn thiếu : Đàn Oocgan, 
tranh ảnh trực quan...
 - Sách đọc thêm và các tài liệu tham khảo liên quan đến môn học của giáo 
viên và học sinh còn rất hiếm hoi. Giáo viên phải tự tìm tài liệu, sưu tầm đồ dùng 
dạy học trên mạng để phục vụ cho việc dạy và học tốt hơn.
 - Đối với HS trên địa bàn huyện Yên Dũng nói chung và học sinh trường 
trung học cơ sở Trí Yên nói riêng đa phần các em là con em nông thôn. Xã Trí Yên 
là một xã thuộc vùng chiêm trũng, diện khó khăn của huyện Yên Dũng, điều kiện 
kinh tế chưa được đầy đủ, việc học thêm các môn văn hoá khác đôi khi còn chưa đủ 
điều kiện thì làm gì nói đến chuyện học thêm các môn như âm nhạc – mỹ thuật Vì 
thế hiểu biết của các em về âm nhạc đang còn hạn chế, chưa sâu rộng, không kích 
thích các em học tập. Đa phần HS bị chi phối, ảnh hưởng về các môn chính, lo cho 
thi, lo đánh giá, phần nào sao nhãng việc học môn âm nhạc. Một nguyên nhân khách 
quan khác cũng không kém phần quan trọng liên quan đến hiệu quả và chất lượng 
bộ môn đó là thời gian dành cho bộ môn quá ít (1tiết/ tuần).
 Mặt khác, một số học sinh có bố mẹ đi làm ăn xa hoặc đi lao động ở nước 
ngoài nên các em phải ở với ông bà . Vì vậy việc quan tâm đến học tập của các em 
còn hạn chế .Đa số các bậc phụ huynh học sinh chỉ quan tâm đến các môn học chính 
như Văn, Toán, ... mà chưa thực sự quan tâm đến bộ môn Âm nhạc bởi họ cứ nghĩ 
rằng đây chỉ là môn học phụ , không cần phải quan tâm và học nhiều .
 9 2.4. Những biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 
a. Đối với phân môn học hát .
 + Phải gây hứng thú cho học sinh ngay từ phần mở đầu bài học và trong suốt 
quá trình dạy phân môn học hát.
 Việc gây được sự hứng thú học tập cho học sinh là vô cùng quan trọng trong 
phân môn học hát . Chính vì vậy, ngay từ lúc giáo viên bước chân vào lớp với thái 
độ vui vẻ, thân mật , cởi mở đối với học sinh sẽ tạo được không khí thoải mái và 
hứng thú học tập. Việc kiểm tra miệng vào đầu mỗi tiết học không nên quá quan 
trọng và gây áp lực căng thẳng cho học sinh . Giáo viên khi kiểm tra nên áp dụng 
nhiều hình thức khác nhau tránh lặp đi, lặp lại nhàm chán. Đặc biệt kiểm tra gắn 
liền với các trò chơi vận động sẽ tạo được cảm giác rất hứng thú cho học sinh .Việc 
đánh giá công bằng trong hoạt động kiểm tra cũng là những yếu tố góp phần tạo 
nên không khí hào hứng chung của cả lớp để chuẩn bị bước vào bài học mới .
 Ví dụ : Vào đầu tiết học , giáo viên có thể bắt nhịp cho cả lớp hát đồng 
thanh bài hát đã học ở tiết học trước ,kết hợp với trò chơi vận chuyển một hộp qua 
bí mật lần lượt đến tay tất cả các thành viên trong lớp . Khi bài hát kết thúc nếu 
hộp qua ở vị trí bạn nào sẽ được lên mở hộp quà trong đó có những câu hỏi liên 
quan đến nội dung cần kiểm tra ( Như : Tác giả của bài hát là ai ? Bài hát viết ở 
nhịp mấy,giọng gì ?...). Nếu học sinh trả lời đúng sẽ nhận được một món quà và 
những tràng pháo tay ròn rã khích lệ của cả lớp.
 Nhưng sự hứng thú học tập chỉ thực sự bắt đầu với phần giới thiệu đề mục 
mới của nội dung bài học sắp diễn ra .Vì vậy hoạt động giới thiệu nội dung bài học 
cần được diễn ra bằng nhiều hình thức khác nhau ,tạo sự tò mò , hấp dẫn và gây 
được hứng thú học tập đối với học sinh. 
 Ví dụ : Tiết 9 : Học hát bài : Hành khúc tới trường.
 Nhạc : Pháp.
 Lời Việt : Phan Trần Bảng
 Lê Minh Châu
 10 Cách 1 :Thông qua các hiệu ứng trình chiếu của phần mềm Powerpoint,violet, 
hay Eleaning các bức ảnh này có thể chuyển động theo ý đồ của giáo viên với 
phần giai điệu của bài hát được lồng ghép trực tiếp có thể phát đồng thời trong quá 
trình người giáo viên giới thiệu bài. Điều này giúp học sinh vừa được nghe bài hát bằng 
tai , vừa được quan sát những hình ảnh sinh động bằng mắt sẽ kích thích được sự hứng 
thú cho học sinh khi chuẩn bị học bài hát .
 Cách 2 : Giới thiệu vài nét về đất nước , con người, nền văn hoá , đặc biệt là nền âm 
nhạc của nước Pháp , nơi được coi là kinh đô của nền âm nhạc thế giới, kết hợp trình 
chiếu một số hình ảnh : Vị trí địa lí của nước Pháp trên bản đồ Thế giới và một số hình 
ảnh tiêu biểu về danh lam thắng cảnh , các nhà văn , nhà thơ, nhạc sĩ tiêu biểu của nước 
Pháp Để từ đó gây sự chú ý , tò mò và có mong muốn tìm hiểu và học một bài hát 
nhạc Pháp xem có gì giống và khác so với âm nhạc Việt Nam 
Bản đồ nước Pháp Tháp Eiffel Nhà thờ Đức Bà Parri
 + Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải biết phát huy tính tích cực, chủ 
động sáng tạo của học sinh để gây hứng thú học tập cho các em .
 11 Thực chất của việc học tập là chuỗi vấn đề được đặt ra, được nhận thức rồi 
được đặt ra và được nhận thức ở mức độ cao hơn, đặc trưng của môn Âm nhạc là 
thực hành. Thực hành là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình dạy và học của bộ môn. 
Thông qua thực hành để dạy lý thuyết, lấy lý thuyết để củng cố kỹ năng thực hành 
trên cơ sở sử dụng thời gian trên lớp một cách tối ưu (tránh thời gian chết ) để tất 
cả học sinh được nhìn nghe và luyện tập nhiều. Thực tế cho thấy nếu trong một tiết 
học giáo viên đặt ra nhiều câu hỏi vừa sức đối với học sinh, học sinh dễ hiểu dễ 
nhớ, hay cho các em nghe, nhìn thể hiện nhiều thì học sinh rất có hứng thú học, tạo 
động cơ học tập tốt.
 *Ví dụ: Trong tiết học ôn tập bài hát, sau khi học sinh đã hát thuộc giai điệu 
bài hát thì giáo viên yêu cầu các em luyện tập bài hát kết hợp với các hoạt động 
gõ đệm; tự tìm một vài động tác biểu diễn phụ họa theo suy nghĩ và ý thích của 
mình hoặc tập đặt lời mới về các chủ đề khác nhau ( Mái trường , thày cô, bạn 
bè, ca ngơi quê hương đất nước ) cho bài hát vừa được học .Qua đó để các em có 
được niềm vui trước sự ra đời sản phẩm tinh thần của mình kèm theo lời khen ngợi 
của giáo viên . 
 + Khuyến khích kỹ năng nghe và đánh giá của học sinh.
 Để học sinh không bị thụ động trong cách lựa chọn tiết tấu cho bài hát, Giáo 
viên khuyến khích kỹ năng nghe và đánh giá của học sinh bằng cách như sau: 
 GV thay đổi tiết tấu, tempo hay dịch giọng bản nhạc để học sinh nhận biết và 
thực hành.
 *Ví dụ 1: Bài hát : Đi cấy.
 Dân ca : Thanh Hoá.
 GV đàn cho HS hát 1-2 câu đầu với tiết tấu rồi lần lượt chuyển tiết điệu 
Disco , Cha cha cha .., yêu cầu học sinh nghe và hát theo nhịp đàn.
 ? Các em hãy cho biết sự thay đổi tiết tấu mà các em vừa trình bày có phù 
hợp với bài hát không?
 HS nêu ý kiến dựa vào kỹ năng nghe của bản thân., các bạn khác nhận xét , 
đánh giá bổ sung và giáo viên chốt lại vấn đề sẽ tạo ra sự chú ý và hứng thú học 
 12 tập cho học sinh . Qua đó sẽ dần dần hình thành ở học sinh kĩ năng nghe lựa chọn 
cách trình bày một bài hát đúng với nhịp độ và sắc thái yêu cầu của tác giả.
 *Ví dụ 2: Bài hát :Tiếng chuông và ngọn cờ.
 Nhạc và lời : Phạm Tuyên
 GV thay đàn giai điệu hoặc cho học sinh thực hành hát 1-2 câu thay đổi Style 
(tiết tấu) và tempo ( Tốc độ của bài hát): Từ Disco( tempo 120) sang Beat ballat 
(tempo 60 ) 
 ? Em có nhận xét gì nếu thay đổi tốc độ cũng như tiết tấu cho bài hát như 
chúng ta vừa trình bày?
 HS trả lời: Bài hát Tiếng chuông và ngọn cờ , nếu hát ở tốc độ chậm cũng 
như tiết tấu nhẹ nhàng mềm mại sẽ không phù hợp với sắc thái của bài hát vì bài 
hát có tính nhịp đi, hùng mạnh , vui tươi 
 GV giải thích: Cơ bản một bài hát có thể sử dụng nhiều tiết tấu và tempo 
khác nhau tuy nhiên dựa vào tính chất của bài để lựa chọn tiết tấu và tempo phù 
hợp như thế mới truyền tải được sắc thái cũng như ý tưởng của tác giả 
 Với cách trình bày như vậy chắc chắn từng ngày HS sẽ có những cảm nhận 
mới trong mỗi lần hát và nghe hát.
 + Học sinh phát biểu cảm nhận về bài hát dưới nhiều hình thức khác nhau 
 Trong học hát, ngoài việc bắt chước giai điệu theo cao độ của nhạc cụ hoặc 
hát mẫu của giáo viên để thuộc lời bài hát Thì sự tìm tòi, sáng tạo là hình thức 
cao nhất thể hiện tính tích cực học tập của HS. Hãy bắt đầu khuyến khích các em 
sau khi học xong bài hát, mạnh dạn nói lên những cảm nhận của mình về môn học, 
về bài hát. HS có thể còn rụt rè, chưa dám phát biểu hoặc không ủng hộ ý kiến của 
GV, của bạn bè đưa ra và có thể trình bày những ý kiến, suy nghĩ của mình. Đó là 
cơ sở để học sinh hình thành năng lực cảm thụ âm nhạc , qua đó có kĩ năng sáng 
tạo lớn hơn. Vì vậy, GV cần tạo điều kiện để HS tự nhận xét, tự đánh giá, tự cảm 
nhận để có thể điều chỉnh cách học theo hướng tích cực. 
 13 *Ví dụ:
 Sau khi học xong bài hát : Niềm vui của em .
 Nhạc và lời : Nguyễn Huy Hùng.
 GV đặt câu hỏi:
 Em hãy nêu cảm nhận của mình về bài hát Niềm vui của em ?
 HS sẽ trả lời qua phần gợi mở của GV như : Nội dung bài hát nói lên điều 
gì? Giai điệu bài hát như thế nào? Qua bài hát này bản thân em học tập được gì? 
Em sẽ phải làm gì để xứng với những điều mà nội dung bài hát muốn chuyển tải 
tới ? 
 Có thể HS trả lời chưa được trôi chảy hoặc ý tứ chưa được sâu sắc song qua 
nhận xét và khắc hoạ của giáo viên thì học sinh từ chỗ hiểu nội dung bài hát còn 
mơ hồ sẽ hiểu sâu sắc hơn và đặc biệt là sẽ có trách nhiệm hơn trong việc học tập 
cũng như rèn luyện
 - Hoặc sau khi học xong bài hát, GV chia lớp thành 2,3 nhóm. Lần lượt từng 
nhóm viết lời giới thiệu cho bài hát. GV nhận xét, chấm điểm.
 VD : Vào mỗi buổi sớm mai , khi ông mặt trời vừa thức dậy, khi những giọt 
sương mai còn long lanh trên cành lá, các bà thì lên nương làm rẫy lo cho cuộc 
sống gia đình.Các bạn nhỏ vùng dân tộc miền núi lại cất bước tới trường để học 
được cái chữ, được tiếp nhận tri thức với bao niềm vui, niềm mơ ước đong đầy 
thắp sáng bản làng, quê hương , vì một tương lai tươi sáng ở phía trước 
 Đó cũng chính là nội dung của bài hát ‘ Niềm vui của em ’’ – Sáng tác của 
nhạc sỹ Nguyễn Huy Hùng mà chúng em muốn gửi tới thày cô và các bạn ngay sau 
đây 
 + Hướng dẫn, tổ chức cho học sinh biểu diễn bài hát trước lớp.
 Thông thường sau khi học xong mỗi bài hát giáo viên đều hướng dẫn học 
sinh hát kết hợp vận động phụ hoạ giúp cho các em tự nhiên khi hát. Tuy nhiên, ở 
một số GV mới chỉ cho HS vận động ở mức độ đơn giản như : Nhún chân, đưa tay 
nhẹ nhàng theo nhịp...Điều này làm hạn chế rất nhiều sự hứng thú và khả năng 
sáng tạo của học sinh . Để khắc phục điều này .Sau khi kết thúc tiết học bài hát 
 14 mới, Giáo viên nên gợi ý và hướng dẫn học sinh về nhà tự tìm tòi, dàn dựng một 
vài động tác phụ hoạ hoặc múa đơn giản, phù hợp với bài hát theo nhóm tự chọn 
hoặc cá nhân ,để các em có thêm những lựa chọn khi biểu diễn bài hát. Sau đó GV 
sẽ tổ chức biểu diễn nhóm hoặc cá nhân trước lớp vào các tiết ôn tập để tất cả các 
bạn học sinh được tham gia biểu diễn, được nhận xét , đánh giá các bạn nhóm 
khác . Từ đó hình thành kĩ năng biểu diễn bất phù hợp mỗi khi trình bày bài hát, 
làm cho tiết học thêm sôi nổi, tạo được hứng thú và tính tích cực , sáng tạo cho học 
sinh. Qua đó, giáo viên có những nhận xét , đánh giá hết khả năng , năng lực sáng 
tạo của mỗi học sinh.
 *Ví dụ 1: 
 Với bài hát Vui bước trên đường xa GV hướng dẫn một vài động tác nhún 
và bước chân theo nhịp, tay đưa nhẹ nhàng uyển chuyển 
 Nhưng với bài hát Đi cấy, GV hướng dẫn hoặc về nhà tìm hiểu một số động 
tác múa đèn của Thanh Hóa trên mạng Internet để dàn dựng theo nhóm tự chọn . 
Như vậy những điều đó sẽ không chỉ giúp cho cách trình bày bài hát thêm sinh 
động mà các em còn được tìm hiểu về những điệu múa mang tính chất đặc trưng 
vùng miền hay các động tác vui nhộn của tân nhạc rất cuốn hút và đặc sắc. 
 Thông qua những tiết học như vậy HS sẽ có những áp dụng sáng tạo trong 
những lần hội diễn văn nghệ trong nhà trường, các hoạt động ngoại khoá, biết 
cách dàn dựng và sử dụng những động tác múa phù hợp với thể loại bài hát 
 Khi học GV đưa ra yêu cầu HS tự chọn nhóm 4 - 5 HS và biểu diễn bài hát 
có động tác phụ hoạ. GV không nên áp đặt các em vào từng nhóm, để các em tự 
chọn sẽ làm HS phấn khởi, vui thích khi được làm việc trong nhóm phù hợp về sở 
thích, về âm vực, chất giọng 
 - HS sẽ tự chọn nhóm có giọng hát thích hợp về âm vực để trình bày bài hát. 
 - HS tự chọn cách trình bày bài: Các em có thể trình bày bài một hoặc hai 
lần, có mở đầu có kết thúc, mỗi câu hát sẽ do em nào đảm nhiệm hay cả nhóm cùng 
hát. Bài hát gồm mấy đoạn, tính chất như thế nào? (GV có thể gợi ý trước). Ngoài 
ra, HS có thể chọn để sử dụng các cách hát như lĩnh xướng, hoà giọng, đối 
 15 đáp làm thế nào để phù hợp với nội dung cũng như cấu trúc bài hát. Như vậy hình 
thức trình bày bài hát của mỗi nhóm sẽ rất đa dạng, phong phú, giàu tính sáng tạo. 
Qua đó sẽ dần dần hình thành kỹ năng biểu diễn bài hát trước lớp hoặc trong những 
buổi sinh hoạt , hội thi văn nghệ 
 - HS tự chọn động tác phụ hoạ cho bài hát: HS có thể nghĩ ra động tác phù 
hợp với nội dung bài hát và tập trình bày cho đều, đẹp (hát kết hợp vận động hoặc 
múa, hát kết hợp một vài động tác diễn xuất).
 - Tuy nhiên để sự sáng tạo đạt hiệu quả cao, GV cần tạo điều kiện về thời 
gian cho HS chuẩn bị. Thông thường GV thông báo trước một tuần để HS chọn 
nhóm và tập cách trình bày, biểu diễn bài hát. (Không thể vừa luyện tập vùa thể 
hiện trong 1 tiết học)
 +Tổ chức chơi trò chơi.
 - Có rất nhiều trò chơi áp dụng trong môn học âm nhạc .Sau mỗi tiết học hát, khi 
học sinh hát đúng giai điệu, lời ca của bài hát, GV nên tổ chức trò chơi liên quan đến 
bài hát nhằm tạo không khí vui vẻ ,gây được sự hứng thú học tập cho học sinh, giúp 
học sinh củng cố lại nội dung bài học và thông qua trò chơi nhằm phát triển một số kĩ 
năng bổ trợ cho cho học sinh học tốt bộ môn. 
 - . Các trò chơi cần đảm bảo tính vui nhộn, lôi cuốn được học sinh tham gia 
hướng dẫn học sinh chơi trò chơi: Giáo viên làm kí hiệu tay theo các chữ cái A, U, I. 
Khi GV đưa tay theo kí hiệu, học sinh hát giai điệu chỉ với các chữ cái theo đúng kí 
hiệu GV hướng dẫn trước lớp. 
 *Ví dụ 1: Trò chơi "Ai nhanh tai hơn”
 Sau khi học xong bài hát giáo viên sử dụng đàn đánh giai điệu một câu nhạc 
hoặc một tiết nhạc bất kì trong bài hát vừa học . Yêu cầu học sinh nghe tìm ra câu 
hát và hát lời ca câu hát đó. 
 Trò chơi này giúp HS mau thuộc lời ca, phát triển tai nghe .
 *Ví dụ 2: Trò chơi ‘Hát giai điệu bài hát theo các chữ cá inguyên âm ‘’ a,o,u,i’’.
 Câu 1: GV đưa 2 tay kí hiệu chữ A lên đỉnh đầu, HS hát "A" theo giai điệu 
của câu 1. “À à, à à a à á a”
 16 Câu 2: Gv đưa tay kí hiệu chữ U, HS hát "U" theo giai điệu của câu 2.
 “U ú u u ù ụ ù u u ù u”
 GV tiếp tục thay đổi các kí hiệu khác cho đến hết bài hát.
 Trò chơi này giúp các em thay đổi không khí học tập, đồng thời để kiểm 
tra việc ghi nhớ giai điệu của HS và rèn cho học sinh kĩ thuật mở khẩu hình trong 
Thanh nhạc.
 Việc kết hợp tổ chức một trò chơi trong giờ học hát là rất cần thiết . Qua trò 
chơi giúp học sinh nắm kiến thức nhanh hơn ,chắc hơn, sâu hơn, vừa tạo ra không 
khí học tập sôi nổi cho HS, đồng thời tạo hứng thú cho HS thêm yêu và thích học 
môn Âm nhạc cũng như tạo tinh thần giải trí để học sinh học các môn học khác 
được tốt hơn.
 b. Đối với phương pháp dạy nhạc lí 
 Nhạc lí là một phân môn tương đối khô khan trong môn Âm nhạc . Vì vậy 
người giáo viên khi dạy phần này cần tránh tiết học nặng nề về lí thuyết hàn lâm 
kinh viện. Muốn tiết học nhạc lí sinh động, hấp dẫn , mang tính nghệ thuật cao thì 
giáo viên cần phải lấy học sinh làm trung tâm , lôi cuốn học sinh vào hoạt động 
xây dựng bài học . Không nên dùng phương pháp diễn giải khô cứng mà chủ yếu 
là dùng phương pháp quy nạp để dạy lý thuyết âm nhạc.
 Muốn dạy tốt phần nhạc lí , theo tôi giáo viên cần đảm bảo thực hiện các bước 
sau:
 + Bước 1 : Giới thiệu kiến thức nhạc lí đến học sinh.
 Kiến thức nhạc lí trong chương trình âm nhạc lớp 6 cấp THCS chủ yếuc nhằm 
giới thiệu cho học sinh những kiến thức sơ giản nhất của âm nhạc : Các kí hiêu âm 
nhạc ( Tên nốt, hình nốt, nhịp và phách, nhịp 2/4, nhịp ¾, Những kí hiệu thường 
găp trong bản nhạc ). Vì vậy khi dạy phần này, giáo viên phải đảm bảo được 2 
nguyên tắc sau :
 * Nguyên tắc thứ nhất : “ Từ thực tiễn rút ra khái niệm hoặc định nghĩa về lí 
thuyết”. 
 17 Ví dụ: Khi dạy về trường độ của âm thanh, giáo viên cần cho học sinh nghe 
hoặc cho các em hát trích đoạn một bài hát quen thuộc và gõ đệm theo phách để 
học sinh nhân ra trường độ của âm thanh có độ dài ngắn khác nhau. Từ đó đưa ra 
khái niệm về trường độ của âm thanh. 
 + Nguyên tắc thứ hai: “ Lấy cái học sinh đã biết để đi đến cái học sinh 
chưa biết”.
 Ví dụ: Muốn định nghĩa về nhịp 2/4 , giáo viên cần hát trích đoạn và gõ 
đệm theo phách của nhip 2/4, kết hợp với khái niệm về Nhịp và Phách đã học , 
giáo viên đặt câu hỏi và gợi ý để học sinh trả lời về định nghĩa nhip 2/4 . Giáo viên 
củng cố , bổ sung và đưa ra định nghĩa về nhịp 2/4.
 + Bước 2 : Minh hoạ kiến thức trên bản nhạc.
 Sau khi giới thiệu kiến thức đến học sinh, giáo viên cần minh hoạ kiến 
thức đó trên những câu nhạc, đoạn nhạc hoặc một bài hát cụ thể cho học sinh 
quan sát và thực hành để nhận biết một cách hiệu quả nhất. 
 Ví dụ : Khi dạy về các kí hiêụ ghi cao độ và trường độ của âm thanh , 
giáo viên cho học sinh quan sát và nhận xét bản nhạc bài hát sau :
 Bài hát : Hành khúc tới trường.
 18 GV hỏi : Về cao độ trong bản nhạc trên có sử dụng những tên nốt nhạc nào ?
 Về trường độ có những hình nốt nhạc nào ?
 HS quan sát quan sát và sẽ nhận biết các kí hiệu đó thông qua quan sát bản nhạc 
cụ thể . Từ đó học sinh sẽ củng cố và khắc sâu kiến thức đã học.
 + Bước 3 : Minh hoạ kiến thức bằng âm thanh.
 Đặc thù của môn âm nhạc là nghệ thuật của âm thanh . Các kiến thức âm nhạc 
của phần nhạc lí sẽ rất khô cứng , khó nhớ, khó hiểu nếu không được minh hoạ 
ngay bằng âm thanh . 
 Ví dụ : Khi dạy học sinh về các kí hiệu ghi trường độ của âm thanh . Sau khi đã 
giới thiệu các hình nốt nhạc cho học sinh, giáo viên cần minh hoạ cụ thể âm thanh 
của từng hình nốt trên đàn phím điện tử ( chon âm sắc kèn Trumpet hay Strings ) 
để học sinh dễ nghe và dễ phân biệt được độ ngân dài , ngắn của từng hình nốt 
nhạc. 
 Hoặc khi dạy về ‘Những kí hiệu thường gặp trong bản nhạc’’ ,sau khi giới 
thiệu các kiến thức cho HS nhận biết được cáckí hiệu về : Dấu luyến, dấu nối, dấu 
nhắc lại, dấu quay lại và khung thay đổi. Giáo viên cần giới thiệu bảng phụ bản 
nhạc một bài hát cụ thể các em đã được học có sử dụng các kí hiệu nêu trên để học 
sinh được thực hành sử dụng các kí hiêu đó 
 Như vậy , việc minh hoạ kiến thức bằng âm thanh sẽ giúp cho học sinh học 
tập phân môn nhạc lí một cách hứng thú hơn , chủ động hơn , đặc biệt là học sinh 
sẽ củng cố và khắc sâu kiến thức âm nhạc được giới thiệu tốt hơn.
 + Bước 4 :Củng cố kiến thức đã học :
 Trong quá trình dạy nhạc lí , để củng cố và khắc sâu kiến thức đã học , giáo 
viên cần tổ chức cho học sinh luyện tập kết hợp với một số trò chơi gây hứng thú 
cho học sinh nhằm tạo không khí học tập sôi nổi , tránh việc học lí thuyết nhàm 
chán , khô cứng . Đồng thời củng cố và khắc sâu kiến thức cho học sinh.
 Ví dụ 1 : Trò chơi ‘ Ai nhanh hơn ’’
 Khi nhận biết vị trí các nốt nhạc trên khuông nhạc , giáo viên yêu cầu học 
sinh đọc tên các nốt kết hợp với trò chơi ‘Bàn tay 5 ngón ’’
 19 Năm ngón tay là tượng trưng cho 5 dòng kẻ nhạc của khuông nhạc. Học sinh 
xoè 5 ngón tay của bàn tay phải trước mặt , khi đọc tên các nốt nhạc ,dùng ngón trỏ 
của bàn tay trái chỉ chỉ vào vị trí như trong hình vẽ . Trò chơi này lúc đầu chơi ở 
tốc độ chậm , sau đó nâng cao tốc độ lên dần để học sinh có thể nhận biết chính 
xác các nốt nhạc càng nhanh càng tốt.
 Ví dụ 2 : Trò chơi : ‘Sắm vai.’’
 Tổ chức cho 7 bạn học sinh lên bảng đóng vai cho 7 tên nốt nhạc đã học . Khi 
người dẫn trò đọc đến tên nốt nhạc nào thì bạn đó phải giơ tay hoặc bước lên 1 
bước . Tốc độ trò chơi cũng được thực hiện từ mức chậm đến nhanh dần 
 c. Phương pháp dạy Tập đọc nhạc (TĐN )
 Tập đọc nhạc là một phân môn tương đối khó trong môn học Âm nhạc ở 
trường THCS .Việc học TĐN đối với học sinh khối lớp 6 lại càng khó khăn hơn. 
Vì vậy trong từng tiết học phân môn TĐN , giáo viên phải gây được hứng thú học 
tập cho học sinh, dẫn dắt các em vào thế giới kỳ diệu của âm thanh .
 Tập đọc nhạc thực chất là sự giải mã đồng thời một loạt hệ thống kí hiệu âm 
nhạc đã học Vì đây là lần đầu tiên các em được học nhạc lí và tập thể hiện các kí 
hiêu đó một cách có bài bản. Mặc dù ở các lớp dưới các em đã làm quen với TĐN , 
nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ truyền khẩu, bắt chước theo giáo viên . Vì 
vậy,để học sinh tập đọc một bài nhạc có hiệu quả. giáo viên cần chuẩn bị và làm 
tốt các bước sau :
 + Bước1 : Hướng dẫn HS tìm hiểu bài TĐN.
 Việc hướng dẫn học sinh được tìm hiểu bài TĐN trước khi thực hành tập đọc 
từng câu là vô cùng quan trọng và cần thiết. bởi đây là bước các em được tìm hiểu 
 20

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_mot_so_giai_phap_gay_hung_thu_giup_hoc_sinh_khoi_lop_6.doc