Ngân hàng câu hỏi môn Ngữ văn 6 - Vũ Thị Thanh Hải

docx 19 trang Người đăng Liễu Như Yên Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 3Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Ngân hàng câu hỏi môn Ngữ văn 6 - Vũ Thị Thanh Hải", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 NGÂN HÀNG CÂU HỎI
 MÔN NGỮ VĂN 6 
 Giáo viên biên soạn:Vũ Thị Thanh Hải 
Chủ đề 1 : Truyện (Truyền thuyết và cổ tích)
 Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
 Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, 
tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ. 
Thần giúp nhân dân diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh - những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành. Thần dạy dân cách 
trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở. Xong việc, thần thường về thủy cung với mẹ, khi có việc cần, thần mới hiện lên.
 Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nghe tiếng vùng đất 
Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, bèn tìm đến thăm. Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đèm lòng yêu thương, rồi trở thành vợ 
chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Trang.
 Ít lâu sau, Âu Cơ có mang. Đến kì sinh, chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng nở ra một trăm người con 
hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần.
 Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở nước cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được, đành từ biệt Âu Cơ 
và đàn con để trở về thủy cung. Âu cơ ở lại một mình nuôi con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên 
và than thở:
 – Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con?
 Lạc Long Quân nói:
 – Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác 
nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia 
nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.
 Âu Cơ và trăm con nghe theo, rồi chia tay nhau lên đường.
 Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là 
Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ; con trai vua gọi là lang, con gái vua gọi là mị nương; khi cha chết thì ngôi được 
truyền cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối ngôi vua đều lấy hiệu là Hùng Vương, không hề thay đổi.
 Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta – con cháu vua Hùng – khi nhắc đến nguồn gốc của mình, thường 
xưng là con Rồng cháu Tiên.
 (Con Rồng cháu Tiên, Theo Nguyễn Đổng Chi) Nội Yêu cầu cần Mức Số 
 Câu hỏi Hướng dẫn - Đáp án
 dung đạt độ lượng
Truyện NB Câu 1 Truyện “Con Rồng cháu Tiên” thuộc Văn bản thuộc thể loại truyện truyền 
(Truyền Hs xác định thể thể loại nào? thuyết
thuyết loại văn bản
và cổ Câu 2 Sắp xếp lại các sự việc sau theo đúng 
tích) trình tự xảy ra trong truyện: HS sắp xếp các sự việc theo đúng trình 
 (1) Nàng Âu Cơ sinh nở kì lạ: Một tự (2), (1), (4), (3)
 HS sắp xếp các sự bọc trứng nở ra 100 người con 
 việc theo đúng (2) Giới thiệu Lạc Long Quân và Âu 
 trình tự trong Cơ 
 đoạn trích (3) Âu Cơ và Lạc Long Quân chia con: 
 50 người con theo cha xuống biển, 50 
 người con theo mẹ lên núi
 (4) Lạc Long Quân vì quen sống dưới 
 nước bỏ Âu Cơ cùng 100 người con ở 
 lại.
 Câu Tìm một yếu tố kì ảo có trong truyện? HS tìm đúng từ 4 chi tiết kì ảo trở lên 
 3. GV xem xét cho điểm tối đa
 HS nêu được các TH Câu 1 Những đặc điểm nào của nhân vật Lạc HS nêu được các đặc điểm của nhân vật 
 đặc điểm của Long Quân trong văn bản trên giúp em truyền thuyết qua nhân vật Lạc Long 
 nhân vật nhận biết đó là nhân vật truyền thuyết? Quân (thần thuộc nòi rồng, con trai thần 
 Long Nữ; sức khỏe vô địch, có nhiều 
 phép lạ; Thần giúp nhân dân diệt trừ 
 Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh - những 
 loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi 
 và cách ăn ở.)
 - HS xác định Câu 2 Tìm 2 từ láy trong đoạn văn sau và cho HS xác định đúng hai từ láy và tác 
 đúng từ loại và biết tác dụng: dụng
 tác dụng của từ “Ít lâu sau, Âu Cơ có mang đến kì + Từ láy: hồng hào + Tác dụng: miêu tả 
 loại đó sinh nở. Chuyện thật lạ, nàng sinh ra vẻ đẹp của những người con, giúp cho 
 một cái bọc trăm trứng nở ra một trăm câu văn thêm sinh động, hấp dẫn.
 con, con nào con ấy hồng hào, đẹp đẽ + Từ láy: đẹp đẽ + Tác dụng: miêu tả vẻ 
 lạ thường. Đàn con không cần bú mớm đẹp của những người con, giúp cho câu 
 mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi văn thêm sinh động, hấp dẫn.
 ngô, khỏe mạnh như thần.”
 -Viết được đoạn VDT Câu 1 Cho biết ý nghĩa của truyện “Con Rồng HS nêu được ý nghĩa của truyện giải 
 văn đúng cấu cháu Tiên” thích nguồn gốc, tổ tiên của Người dân 
 trúc , dung lượng Việt Nam; ca ngợi công lao của Lạc 
 Long Quân trong việc trừ yêu, diệt ma, 
 chỉ dân cách trồng trọt, ăn ở.
- Viết được tự sự VDC Câu 2 Bằng lời văn của mình, hãy kể lại một Mở bài: 
bài viết có bố cục câu chuyện cổ tích mà em thích - Học sinh dẫn dắt, giới thiệu câu chuyện 
rõ ràng, triển khai cổ tích.
các phần hợp lí Thân bài 
giàu sức thuyết + Giới thiệu nhân vật, thời gian, không 
phục sáng tạo trong gian diễn ra. 
cách diễn đạt + Kể diễn biến câu chuyện, các sự việc 
 theo trình tự thời gian.
 + Kết thúc. Kết bài: 
 -Nêu được ý nghĩa của câu chuyện, tình 
 cảm dành cho nhân vật.
Chủ đề 2 : Thơ (Thơ lục bát)
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:
 Công Cha
 Ơn cha mẹ như biển trời
 Làm sao đong đếm giữa đời được đây?
 Nuôi con khó nhọc tháng ngày
 Sớm hôm tần tảo cấy cày đồng sâu
 Cuối chiều tháng bảy mưa ngâu
 Ướt thân cha mẹ nào đâu quản gì.
 Tiền tài vật chất sá chi
 Bạc vàng gấm lụa mấy khi sánh bằng
 Công cha ơn mẹ vĩnh hằng
 Trong tâm ta mãi bội phần lớn lao.
 Sống làm sao? Nghĩ làm sao?
 Cho ngày mai chẳng lao đao nỗi lòng
 Một đời thanh thản thong dong
 Trọn phần hiếu thuận, trắng trong tâm hồn.
 (Tú Yên) Nội Yêu cầu cần Mức Số 
 Câu hỏi Hướng dẫn - Đáp án
 dung đạt độ lượng
Thơ ( NB Câu 1 Văn bản được viết theo thể loại nào? Xác định được thể loại : Thơ lục bát
Thơ lục Hs xác định thể 
bát ) loại văn bản
 Câu 2 Xác định cách gieo vần ở 4 câu thơ Cách gieo vần: Sao - đao, lòng - dong 
 cuối? - trong.
 HS xác định Câu Tìm ít nhất 1 từ láy và 1 từ ghép được - Từ láy: thong dong, lao đao 
 đúng từ loại và 3. sử dụng trong bài thơ trên? - Tứ ghép: biển trời, vật chất, hiếu 
 tác dụng của từ thuận 
 loại đó 
 HS xác định được TH Câu 1 Nêu chủ đề của bài thơ? Chủ đề: Cha mẹ là người đã hi sinh cả 
 chủ đề của vb đời vì con. Chính vì điều đó ta càng phải 
 biết yêu thương, kính trọng hơn với cha 
 mẹ.
 - HS xác định Câu 2 Tìm biện pháp nghệ thuật được sử - Biện pháp nghệ thuật: so sánh
 đúng bptt và dụng trong câu thơ sau và cho biết tác - Tác dụng: làm tăng sức gợi hình, gợi 
 tác dụng của từ dụng của biện pháp tu từ được sử dụng: cảm cho sự diễn đạt, so sánh ơn nghĩa 
 bptt đó “Ơn cha mẹ như biển trời của cha mẹ cao rộng như biển trời 
 Làm sao đong đếm giữa đời được không đong đếm được.
 đây?”
 -Viết được đoạn VDT Câu 1 Qua văn bản trên em hãy viết đoạn - Trình bày đúng hình thức đoạn văn.
 văn đúng cấu văn ngắn (6 - 8 câu ) nêu cảm nhận - Diễn đạt mạch lạc, trình bày được 
 trúc , dung lượng của em về cách ứng xử của con cái suy nghĩ của bản thân.
 đối với cha mẹ. - Bài viết có sáng tạo. - Viết được tự sự VDC Câu 2 Em đã từng trải qua những chuyến đi - Mở bài: Giới thiệu sơ lược về trải 
 bài viết có bố cục xa, được khám phá và trải nghiệm biết nghiệm đáng nhớ của bản thân.
 rõ ràng, triển khai bao thắng cảnh, khu vui chơi giải trí, - Thân bài:
 các phần hợp lí di tích lịch sử văn hóa, học tập được + Sử dụng ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ 
 giàu sức thuyết bao điều mới lạ, Hãy kể lại một ba để viết.
 phục sáng tạo trong trải nghiệm đáng nhớ của mình với + Trình bày chi tiết về thời gian, không 
 cách diễn đạt người thân. gian, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện.
 + Trình bày chi tiết những nhân vật liên 
 quan.
 + Trình bày các sự việc theo trình tự 
 hợp lý, rõ ràng.
 + Kết hợp kể và miêu tả, biểu cảm.
 - Kết bài: Nêu ý nghĩa của trải nghiệm 
 đối với bản thân.
Chủ đề 3 : Kí (hồi kí và du kí)
THƯƠNG NHỚ BẦY ONG
Ngày xưa, ông tôi nuôi nhiều ong; đằng sau nhà có hai dãy đõ ong mật. Sau ngày ông tôi mất, cha và chú tôi còn nuôi một ít đõ, 
nhưng không “vượng” như xưa nữa.
 Sau nhà có hai “đõ” ong “sây” lắm. Chiều lỡ buổi (khoảng 4 giờ chiều) thì ong bay ra họp đàn trước đõ, và tôi hay ra xem, 
nhiều khi bị ong đốt nhưng tôi mê xen không thôi. Buồn lắm, cái buồn xa xôi vắng tạnh của chiều quê, của không gian mà tôi 
cảm nghe từ buổi ấy. Nhất là những lúc cả nhà đi vắng thì tôi buồn đến nỗi khóc một mình, nghe lòng bị ép lại, như trời hạ thấp 
xuống. Và bầy ong thì vù vù không thôi. Buồn nhất là mấy lần ong “trại”, Nghĩa là một phần đàn ong rời xa, bỏ tổ nhà mang 
theo một ong chúa. Nếu ong “trại” vào buổi trưa thì thường thường chú tôi biết được và hô lên cho cả xóm ném đất vụn lên 
không, thế là cả bầy ong mệt lử phải đậu lại ở một cây nào đó hai trở về đõ. Ong đậu lại trên cây, chú tôi hay người khác lại trèo 
lên bắt mang về đõ cũ hoặc cho vào đõ mới. Nhưng đôi khi ong trại buổi chiều lỡ buổi, vào lúc chú tôi phải ra đồng cày tra (cày 
ải). Một lần ở nhà một mình, tôi thấy ong trại mà không thể làm gì được. Tôi cũng ném đất vụn lên không nhưng không ăn thua 
gì. Ong vù vù lên cao, bay mau và mất hút trong chốc lát. Tôi nhìn theo buồn không nói được. Cái buồn của đứa bé rộng lớn đến 
bao nhiêu, các thi sĩ, văn nhân đã ai nói đến chưa? Tưởng như một mảnh hồn của tôi đã san đi nơi khác. Nơi xa xôi nào đó, tôi 
đã nhận thấy một phần cốt tủy của linh hồn nhà tôi với bầy ong trại.
 Một thi sĩ phương Tây ngày trước đã nói đúng lắm: Những vật vô tri vô giác đều có một linh hồn nó vương vấn với hồn ta và 
khiến ta yêu mến. Cái tổ ong sau thềm nhà, cái giá đặt đõ ong, từng chậu nước con con ở chân giá xanh lè vì rêu bám: bao nhiêu 
vật nhỏ nhẹ, vụn vặt mà đã gom góp cho tôi những cảm giác đầu tiên, những cái nhìn ngó đầu tiên vào ý nghĩa cuộc đời và vũ 
trụ. Và ý thơ cuộc đời, ý thơ vũ trụ, cái xa xôi vắng vẻ sau này ám ảnh tôi, ngày thơ bé tôi đã nghe rồi, mỗi lần ong trại 
 (Huy Cận Hồi kí Song đôi. NXB Hội Nhà văn, 2012. Văn bản do người biên soạn SGK Chân trời sáng tạo tách đoạn và đặt 
nhan đề)
 Nội Yêu cầu cần Mức Số 
 Câu hỏi Hướng dẫn - Đáp án
 dung đạt độ lượng
 Kí (hồi NB Câu 1 Những dấu hiệu nào đã giúp em biết Những dấu hiệu cho biết văn bản trên 
 kí và du Hs xác định thể văn bản trên thuộc thể hồi kí? thuộc thể hồi kí:
 kí) loại văn bản - Ngôi kể chuyện: ngôi thứ nhất, người 
 kể xưng “tôi”.
 - Nội dung: Kể lại việc gia đình nuôi ong 
 và chứng kiến cảnh ong trai với tâm 
 HS xác định trạng buồn bã.
 đúng các chi tiết - Hình thức ghi chép: những sự việc có 
 trong vb thật được chứng kiến về việc ong trại. 
 (tính xác thực) Câu 2 Tìm trong văn bản một số từ ngữ, câu - Một số từ ngữ, câu văn:
 văn diễn tả nỗi buồn của nhân vật “tôi” + Tôi nhìn theo, buồn không nói được.
 khi chứng kiến bầy ong bỏ tổ bay đi. + Cái buồn của đứa bé rộng lớn đến bao 
 nhiêu, các thi sĩ, văn nhân đã ai nói đến 
 chưa?
 + Nhìn ong trại ra đi, tưởng như một 
 mảnh hồn của tôi đã san đi nơi khác.
 Câu 3 Xác định từ mượn trong câu: “Nơi xa - Có 02 từ mượn: cốt tủy, linh hồn là 
 xôi nào đó, tôi đã nhận thấy một phần từ mượn Tiếng Hán.
 cốt tủy của linh hồn nhà tôi với bầy ong 
 trại”và cho biết nguồn gốc của từ 
 mượn đó?
HS xác định được TH Câu 1 Trong câu văn “Và ý thơ cuộc đời, ý - Không thể bỏ bớt cụm từ “sau này” 
chủ đề của vb thơ vũ trụ, cái xa xôi vắng vẻ sau này hoặc “ngày thơ bé”.
 ám ảnh tôi, ngày thơ bé tôi đã nghe rồi, - Những cụm từ trên thể hiện mối quan 
 mỗi lần ong trại”, theo em, có thể bỏ hệ giữa quá khứ và tương lai, ảnh hưởng 
 bớt cụm từ “sau này” hoặc “ngày thơ đến suy nghĩ và cảm nhận của nhân vật 
 bé” được không? Vì sao? Từ đó nêu tác “tôi”.
 dụng của việc sử dụng các cụm từ chỉ - Các sự việc trong hồi kí được kể lại 
 thời gian trong hồi kí. theo trình tự thời gian. Bởi vậy, các cụm 
 từ chỉ thời gian nhằm xác định thời điểm 
 cụ thể xảy ra sự việc.
 - HS xác định Câu 2 Để tái hiện lại quá khứ một cách chân - “Thương nhớ bầy ong” thuộc kiểu vừa 
 đúng bptt và thực, sinh động người viết hồi ký có thể kể lại sự việc vừa kể lại cảm xúc, suy tư 
 tác dụng của từ tập trung kể lại sự việc, cũng có thể vừa của mình trước sự việc ấy.
 bptt đó kể lại sự việc vừa kể lại cảm xúc, suy tư - Dựa vào: Nhân vật tôi vừa kể về sự 
 của mình trước sự việc ấy. Theo em, việc ong “trại”, vừa bộc lộ tâm trạng 
 “Thương nhớ bầy ong” thuộc trường hợp buồn bã trước sự việc đó, cũng như nào trong hai trường hợp trên? Dựa vào chiêm nghiệm về cuộc đời: “Một thi sĩ 
 đâu có thể khẳng định như vậy? phương Tây ngày trước đã nói đúng 
 lắm thi nhân đâu”.
 - trình bày ý VDT Câu 1 Đọc “Thương nhớ bầy ong”, có bạn - Ý kiến: Nhân vật cậu bé xưng “tôi”, 
 kiến của em về khẳng định rằng nhân vật cậu bé xưng trong văn bản chính là tác giả Cù Huy 
 các nhận định “tôi”, trong văn bản chính là tác giả Cù Cận.
 trên. Huy Cận, một số bạn khác lại cho là - Nguyên nhân:
 không phải như vậy. Cho biết ý kiến + Câu chuyện mang những đặc điểm của 
 của em về các nhận định trên. thể loại hồi kí (đã chứng minh ở trên)
 + Ở phần cuối, nhân vật “tôi” đã có 
 những chiêm nghiệm sâu sắc về việc 
 sáng tác thơ ca. Huy Cận được biết đến 
 là một nhà thơ nổi tiếng của nền văn học 
 Việt Nam
- Viết được tự sự VDC Câu 2 Em đã từng trải qua những chuyến đi - Mở bài: Giới thiệu sơ lược về trải 
bài viết có bố cục xa, được khám phá và trải nghiệm biết nghiệm đáng nhớ của bản thân.
rõ ràng, triển khai bao thắng cảnh, khu vui chơi giải trí, - Thân bài:
các phần hợp lí di tích lịch sử văn hóa, học tập được + Sử dụng ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ 
giàu sức thuyết bao điều mới lạ, Hãy kể lại một ba để viết.
phục sáng tạo trong trải nghiệm đáng nhớ của mình với + Trình bày chi tiết về thời gian, không 
cách diễn đạt người thân. gian, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện.
 + Trình bày chi tiết những nhân vật liên 
 quan.
 + Trình bày các sự việc theo trình tự 
 hợp lý, rõ ràng.
 + Kết hợp kể và miêu tả, biểu cảm.
 - Kết bài: Nêu ý nghĩa của trải nghiệm 
 đối với bản thân. Chủ đề 4 : Nghị luận văn học
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu 
 Bàn về nhân vật Thánh Gióng
Truyện Thánh Gióng là tác phẩm lớn đầu tiên về đề tài giữ nước chống xâm lược. Nhân vật Thánh Gióng được xây dựng rất đặc 
sắc, vừa là một anh hùng phi thường với vẻ đẹp lí tưởng, vừa là một con người trần thế với những vẻ đẹp giản dị, gần gũi.
 Trước hết, Thánh Gióng hội tụ những đặc điểm phi thường, thể hiện lý tưởng của nhân dân về người anh hùng đánh giặc 
cứu nước. sự phi thường của nhân vật phóng thể hiện qua những chi tiết về sự thụ thai, thần kỳ của bà mẹ Gióng (như bà bắt đầu 
mang thai Gióng sau khi bà muốn thử bàn chân mình vào vết chân khổng lồ, bà mang thai Gióng 12 tháng mới sinh ). Ở Gióng 
có cả sức mạnh của thể lực và sức mạnh của tinh thần, ý chí. Không có thể lực và ý chí chiến đấu phi thường, làm sao Thánh 
Gióng có thể nhổ từ bụi tre đằng ngà để tiếp tục truy kích và đánh tan quân xâm lược? Tất cả những chi tiết ấy đều nhằm mục 
đích đề cao người anh hùng, làm cho người anh hùng có nguồn gốc siêu nhiên, thần thánh khác thường.
 Nhìn chung những yếu tố kì diệu, khác thường trong nhân vật Gióng tuy khá nổi bật nhưng cũng không thể lấn át và thay 
thế được cái bình thường của con người trần thế.
 Nguồn gốc lai lịch của Gióng thật rõ ràng, cụ thể và xác định. Căn bản và trước hết, Gióng là một con người, một người 
con của làng Phù Đổng, nước Văn Lang, đời Hùng Vương thứ sáu. Quá trình ra đời, trưởng thành và chiến thắng giặc ngoại xâm 
của Gióng đều gắn với những người dân bình dị. Dù có siêu nhiên kì ảo đến đâu, Gióng vẫn phải “nằm trong bụng mẹ” (dù là 
mười mấy tháng), vẫn thể “uống nước, ăn cơm với cà” (dù là mấy nong), vẫn phải mặc quần áo bằng vải của dân làng Phù Đổng 
(dù là cỡ rộng đến đâu). Và ngay cả ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt của Gióng cũng là do vua Hùng tập hợp người thợ rèn tài giỏi 
nhất ở trong nước đúc nên. 
 Nhân vật Thánh Gióng thể hiện sức mạnh của nhân dân trong công cuộc giữ nước. Lực lượng chống giặc ngoại xâm bảo vệ 
tổ quốc của dân tộc bình thường tiềm ẩn trong nhân dân, tương tự như chú bé làng Gióng nằm im không nói, không cười. Nhưng 
khi có giặc thì tiếng nói ấy đã tập hợp, thức tỉnh tất cả các lực lượng tiềm ẩn ấy của dân tộc và làm nên Thánh Gióng. 
 Khi chưa có giặc, Gióng là đứa trẻ nằm im không biết nói. Khi nghe tiếng gọi của non sông, Gióng vụt lớn lên và cất lời 
nhận nhiệm vụ, đánh tan giặc Thánh Gióng bay về trời. Quá trình phát triển của nhân vật Thánh Gióng dồi dào ý nghĩa nhân sinh 
và nên thơ, nên họa biết bao!
 (Theo Hoàng Tiến tựu, Bình giảng truyện dân gian, NXB Giáo dục 2003) Nội Yêu cầu cần Mức Số 
 Câu hỏi Hướng dẫn - Đáp án
 dung đạt độ lượng
 Nghị NB Câu 1 Xác định thể loại văn bản Thể loại : VB nghị luận 
luận văn Hs xác định thể 
 học loại văn bản
 Câu 2 Tác giả đã nêu ý kiến gì về nhân vật Tác giả đã nêu ý kiến gì về nhân vật 
 Thánh Gióng? Thánh Gióng: Nhân vật được xây dựng 
 rất đặc sắc, vừa là một anh hùng phi 
 HS xác định thường với vẻ đẹp lí tưởng, vừa là một 
 đúng các chi tiết con người trần thế với những vẻ đẹp 
 trong vb giản dị, gần gũi.
 Câu 3 Xác định ít nhất 03 từ mượn có trong - Có 03 từ mượn: phi thường, kì diệu, lí 
 văn bản trên. tưởng
 HS xác định được TH Câu 1 Hãy xác định lí lẽ mà tác giả đưa ra để - Thánh Gióng là một người anh hùng 
 chủ đề của vb củng cố ý kiến của mình phi thường 
 Sự phi thường của nhân vật Gióng thể 
 hiện qua những chi tiết về sự thụ thai 
 thần kì của bà mẹ Gióng
 - Nhân vật Thánh Gióng thể hiện sức 
 mạnh của nhân dân trong công cuộc giữ 
 nước. Lực lượng chống giặc ngoại xâm, 
 bảo vệ Tổ quốc của dân ta tiềm ẩn trong 
 nhân dân, tương tự như chú bé làng 
 Gióng - HS xác định Câu 2 Trong đoạn văn sau, câu nào thê hiện - Câu thể hiện lí lẽ là: 
đúng bptt và lí lẽ, câu nào thể hiện bằng chứng? + Quá trình ra đời, trưởng thành và 
tác dụng của từ “Quá trình ra đời, trưởng thành chiến thắng giặc ngoại xâm của Gióng 
bptt đó 
 và chiến thắng giặc ngoại xâm của đều gắn với những người dân bình dị.
 Gióng đều gắn với những người dân - Câu thể hiện bằng chứng là:
 bình dị. Dù có siêu nhiên kì ảo đến + Dù có siêu nhiên kì ảo đến đâu, Gióng 
 đâu, Giỏng vẫn phải “nằm trong bụng vẫn phải “nằm trong bụng mẹ” (dù là 
 mẹ” (dù là mấy tháng), vẫn phải mấy tháng), vẫn phải “uống nước, ăn 
 “uống nước, ăn cơm với cà” (dù là cơm với cà” (dù là mấy nong), vẫn phải 
 mấy nong), vẫn phải mặc quần áo mặc quần áo bằng vải của dân làng Phù 
 bằng vải của dân làng Phù Đông (dù Đông (dù là cỡ rộng đến đâu). Và ngay 
 là cỡ rộng đến đâu). Và ngay cả ngựa cả ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt, của 
 sắt, roi sắt, áo giáp sắt, của Gióng Gióng cũng là do vua Hùng tập hợp 
 cũng là do vua Hùng tập hợp những những người thợ rèn tài giỏi ở trong 
 người thợ rèn tài giỏi ở trong nước đúc nước đúc nên.
 nên."
- trình bày ý VDT Câu 1 - Câu thể hiện lí lẽ là: - Em đồng ý với ý kiến của tác giả 
kiến của em về + Quá trình ra đời, trưởng thành và 
 - Vì ở mỗi góc nhìn khác nhau người 
các nhận định chiến thắng giặc ngoại xâm của Gióng 
trên. đọc có thể cảm nhận, xem xét nhân vật 
 đều gắn với những người dân bình dị.
 dưới một góc độ khác nhau.
 - Câu thể hiện bằng chứng là:
 + Dù có siêu nhiên kì ảo đến đâu, 
 Gióng vẫn phải “nằm trong bụng mẹ” 
 (dù là mấy tháng), vẫn phải “uống 
 nước, ăn cơm với cà” (dù là mấy nong), vẫn phải mặc quần áo bằng vải 
 của dân làng Phù Đông (dù là cỡ rộng 
 đến đâu). Và ngay cả ngựa sắt, roi sắt, 
 áo giáp sắt, của Gióng cũng là do vua 
 Hùng tập hợp những người thợ rèn tài 
 giỏi ở trong nước đúc nên.
- Viết được phát VDC Câu 2 Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về bài I.Mở bài
biểu cảm nghĩ thơ lục bát Trong cuộc đời, có những tác phẩm văn 
bài viết có bố cục Mẹ ta không có yếm đào học mang trong mình sức mạnh và tình 
rõ ràng, triển khai nón mê thay nón quai thao đội đầu cảm đặc biệt, khắc sâu vào trái tim của 
các phần hợp lí rối ren tay bí tay bầu độc giả. Một trong những tác phẩm ấy 
giàu sức thuyết chính là bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta 
 váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa
phục sáng tạo xưa của Nguyễn Duy. Với những từ ngữ 
trong cách diễn chân thành và tình cảm chân thành, tác 
đạt Cái cò sung chát đào chua giả đã viết nên một tác phẩm đặc sắc, để 
 câu ca mẹ hát gió đưa về trời lại dấu ấn trong lòng người đọc.
 ta đi trọn kiếp con người II. Thân bài
 cũng không đi hết mấy lời mẹ ru. 1. Phần 1: "Mẹ ta... bốn mùa":
 (“Ngồi Nguyễn Duy thể hiện một tình cảm sâu 
 buồn nhớ mẹ ta xưa” – Nguyễn Duy) sắc và đồng cảm với số phận của những 
 người phụ nữ nông thôn, những người 
 luôn phải vất vả và khổ cực để sinh 
 sống. Mẹ của ông cũng là một trong số 
 những người phụ nữ kiên cường đó, 
 cuộc đời bà trải qua những khó khăn, 
 gian khổ, không biết đến niềm vui và 
 ánh sáng, chỉ mang trên mình chiếc yếm 
 đào xinh xắn, nón quai thao và khăn chít mỏ quạ. Suốt đời, bà chỉ biết vất vả và 
nghèo khổ, làm việc ngày đêm để trang 
trải cuộc sống, đánh cái bàn tay mẻ, thu 
thập quả bí, quả bầu để mang đi bán lấy 
vài đồng. Bà mặc những chiếc váy đen 
nhuộm bùn ướt đến tận xương, áo cánh 
nâu phai màu với vai áo đã bạc mà 
chẳng có tiền để mua sắm mới.
2. Phần 2: "Cái cò... mẹ ru":
"Cái cò... sung chát... đào chua." Câu hát 
ru chính là biểu tượng và tâm hồn của 
cuộc đời mẹ, một cuộc sống lặn lội và 
đầy chua cay. "Ta đi trọn kiếp con 
người/ Cũng không đi hết mấy lời mẹ 
ru" là những câu thơ thể hiện lòng trân 
trọng và yêu thương sâu sắc, gợi lên tình 
mẫu tử thiêng liêng và quý báu, một tình 
cảm to lớn ôm trọn cuộc đời con.
III. Kết bài
Trước tác phẩm tuyệt vời này, chúng ta 
không thể không cảm nhận được tình 
cảm chân thành và tình yêu thương vô 
bờ bến mà Nguyễn Duy dành cho người 
mẹ. Bài thơ khiến chúng ta nhớ đến 
những giá trị gia đình và truyền thống, 
gợi lên tình cảm sâu sắc và quý báu của 
tình mẫu tử. Chủ đề 4: Văn bản thông tin
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 6
 LỄ CÚNG THẦN LÚA CỦA NGƯỜI CHƠ-RO
Người Chơ-rô, còn gọi là Đơ-ro, Châu Ro, là một trong những tộc người có mặt từ sớm nhất trên vùng đất Đồng Nai. Lễ cúng 
Thần Lúa của người Chơ-ro thể hiện mối giao hòa gắn bó giữa con người và thiên nhiên, cùng ước mơ về cuộc sống ấm no 
hạnh phúc, đây cũng được xem là Tết của người Chơ - ro. 
Ngày nay, một số nơi, người Chơ Ro vẫn còn tổ chức lễ hội Sa Yang Va nhưng không còn kéo dài, quy mô như xưa do tác 
động nhiều mặt của xã hội. Có nhiều yếu tố, địa điểm, nghi thức, diễn sự, vật tế để tạo nên lễ hội Sa Yang Va. Một trong 
những đặc trưng của lễ hội là việc làm cây nêu.
Lễ cúng thường diễn ra từ ngày 15 đến 30 tháng 3 âm lịch, vào sau mùa thu hoạch.
Trong lễ hội Sa Yang Va, cây nêu có nhiều ý nghĩa tượng trưng. Theo cách nghĩ của người Chơ Ro, cây nêu được xem là cây 
thông thiên. Bởi họ dựng cây nêu là để gửi “tin báo và thư mời” cho thần linh để đến dự lễ hội của cộng đồng Chơ Ro. Đối với 
con người thì cây nêu là mối giao hòa giữa cộng đồng. Hễ ai thấy cây nêu thì biết rằng làng vào lễ hội.
Khi tổ chức cúng Sa Yang Va người Chơ Ro thường làm một cây nêu đặt trước sân nhà sàn – nhà có bàn thờ nhang chính, diễn 
ra lễ cúng đồng thời khoảng sân để tổ chức đốt lửa và sinh hoạt cộng đồng khi đêm xuống.
Có thể xem cây nêu là một trong những biểu trưng tiêu biểu và nhiều ý nghĩa nhất trong lễ hội của người Chơ Ro. Nó thể hiện 
mối giao hòa giữa con người với thần linh, sự giao cảm giữa con người với con người và những ước vọng chính đáng về sự tồn 
tại, sự phát triển của con người trong vũ trụ.
Buổi sáng những người phụ nữ Chơ Ro đi rước hồn lúa, vốn là chùm lúa rẫy được bó để giành sau mùa thu hoạch trên nương. 
Rước về họ chia bông lúa trang trí trên bàn thờ, làm thịt gà, heo bôi huyết trên cây nhang và chuẩn bị rượu cần, các lễ vật để 
cúng thần. 
Ở bàn thờ trước cây nêu người Chơ Ro khấn trình lòng thành của mình và cầu xin thần linh ban cho vụ mùa với những bông 
lúa nặng trĩu, chắc hạt. Đó cũng chính là ước vọng chung của những cư dân làm nông nghiệp.
Khi cúng xong, mọi người trở lên nhà sản chính đề dự tiệc. Mở đầu buổi tiệc, theo truyền thông mẫu hệ, người phụ nữ lớn tuổi 
nhất trong gia đình sẽ uống li rượu đầu tiên, sau đó mới mời khách theo thứ bậc tuổi tác. Trong thời gian dự tiệc, mọi người 
vừa ăn uống vui vẻ, vừa nhảy múa, ca hát trong âm thanh trầm bổng, dặt dìu của dàn cồng chiêng và nhiều nhạc cụ dân tộc 
khác như đàn tre, kèn môi, kèn lúa... Thật tưng bừng, náo nhiệt! Lễ cúng Thần Lúa của người Chơ-ro là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo, góp phần làm phong phú di sản văn hóa của 
dân tộc. Qua lễ hội, tôi cảm nhận rõ sự gắn bó ân tình giữa con người với thiên nhiên, lòng biết ơn của con người với những 
món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng.
 (Theo Văn Quang, Văn Truyên, langvietonline.vn, 11:09 ngày 04-04-2017)
 Nội Yêu cầu cần Mức Số 
 Câu hỏi Hướng dẫn - Đáp án
 dung đạt độ lượng
 Nghị NB Câu 1 Xác định thể loại văn bản Thể loại : VB thông tin 
 luận văn Hs xác định thể 
 học loại văn bản
 Câu 2 Những dấu hiệu nào giúp em nhận biết - Những dấu hiệu giúp em nhận biết lễ 
 lễ cúng Thần Lúa của người Chơ-ro là cúng Thần Lúa của người Chơ-ro là 
 một văn bản thông tin? một văn bản thông tin:
 HS xác định + VB cung cấp thông tin về một sự 
 đúng các chi tiết kiện văn hóa tiêu biểu của người Chơ-
 trong vb ro.
 + Có phần sa pô được in nghiêng
 + Nhan đề thể hiện nội dung chính của 
 bài viết.
 - Mục đích: Giới thiệu một nét đẹp văn 
 hóa mang đậm bản sắc của người dân 
 tộc Chơ-ro đến người đọc.
 Câu 3 Lễ cúng Thần Lúa của người Chơ-ro - Lễ cúng Thần Lúa của người Chơ-ro 
 gồm những hoạt động nào? gồm những hoạt động:
 + Làm cây nêu
 + Người phụ nữ Chơ-ro đi rước hồn 
 lúa.
 + Trước khi vào nghi thức cúng chính, 
 người phụ nữ lớn tuổi trong nhà mang 
 gùi rẫy ra. Đến chỗ lúa để dành cúng thần, bà vái các thần linh trước rồi cắt 
 bụi lúa mang về. Những bông lúa này 
 dùng để trang trí lên bàn thờ.
 + Già làng hoặc chủ nhà đọc lời khấn, 
 trình bày tấm lòng thành của gia chủ 
 cầu mong thần linh phù hộ cho sức 
 khỏe, ban cho mùa màng tươi tốt, cây 
 lắm trái, lúa nhiều hạt.
 + Khi cúng xong, mọi người trở lên 
 nhà sàn chính để dự tiệc, ca hát, nhảy 
 múa 
HS xác định được TH Câu 1 Xác định cụm từ làm vị ngữ trong câu - Cụm động từ: nhận rõ sự gắn bó ân 
chủ đề của vb văn sau: “Qua lễ hội, tôi cảm nhận rõ tình giữa con người với thiên nhiên
 sự gắn bó ân tình giữa con người với - Cụm danh từ: những món quà quý giá 
 thiên nhiên, lòng biết ơn của con mà thiên nhiên ban tặng
 người với những món quà quý giá mà 
 thiên nhiên ban tặng.”
 - HS xác định Câu 2 Trong đoạn văn sau, câu nào tường - Câu tường thuật sự kiện: Khi cúng 
 đúng các kiểu thuật sự kiện, câu nào miêu tả sự kiện, xong, mọi người trở lên nhà sản chính 
 câu câu nào thể hiện cảm xúc của người đề dự tiệc.
 Việt? - Câu miêu tả sự kiện: Mở đầu buổi 
 Khi cúng xong, mọi người trở lên tiệc, theo truyền thông mẫu hệ, người 
 nhà sản chính đề dự tiệc. Mở đầu buổi phụ nữ lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ 
 tiệc, theo truyền thông mẫu hệ, người uống li rượu đầu tiên, sau đó mới mời 
 phụ nữ lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ khách theo thứ bậc tuổi tác. Trong thời 
 uống li rượu đầu tiên, sau đó mới mời gian dự tiệc, mọi người vừa ăn uống 
 khách theo thứ bậc tuổi tác. Trong vui vẻ, vừa nhảy múa, ca hát trong âm thời gian dự tiệc, mọi người vừa ăn thanh trầm bổng, dặt dìu của dàn cồng 
 uống vui vẻ, vừa nhảy múa, ca hát chiêng và nhiều nhạc cụ dân tộc khác 
 trong âm thanh trầm bổng, dặt dìu của như đàn tre, kèn môi, kèn lúa...
 dàn cồng chiêng và nhiều nhạc cụ dân - Câu thể hiện cảm xúc của người viết: 
 tộc khác như đàn tre, kèn môi, kèn Thật tưng bừng, náo nhiệt!
 lúa... Thật tưng bừng, náo nhiệt!
 - trình bày ý VDT Câu 1 Văn bản giúp em hiểu gì về mối quan Văn bản giúp em hiểu thiên nhiên và 
 kiến của em về hệ giữa con người và thiên nhiên? con người có mối quan hệ gắn bó mật 
 vb thiết, tác động qua lại. Thiên nhiên có 
 sự ảnh hưởng, tác động đến đời sống 
 của con người. Chính vì vậy, con người 
 cũng cần trân trọng, yêu quý và bảo vệ 
 thiên nhiên.
 Viết bài văn VDC Câu 2 Viết bài văn thuyết minh thuật lại Viết bài văn thuyết minh thuật lại 
thuyết minh thuật một sự kiện một sự kiện
lại một sự kiện I. Mở bài
bài viết có bố cục - Dẫn dắt, giới thiệu về sự kiện sẽ 
rõ ràng, triển khai thuyết minh.
các phần hợp lí II. Thân bài
giàu sức thuyết 1. Đôi nét khái quát về sự kiện được 
phục sáng tạo thuyết minh
trong cách diễn - Sự kiện đó có tên là gì? Được tổ chức 
đạt nhân dịp gì?
 - Sự kiện đó được tổ chức ở đâu? Vào 
 thời gian nào?
 2. Kể lại diễn biến của sự kiện theo 
 trình tự thời gian:
 a. Trước khi bắt đầu sự kiện: - Nơi diễn ra sự kiện được trang trí như 
thế nào? Điểm khác biệt so với ngày 
thường?
- Những người đến tham dự sự kiện 
gồm những ai? Trang phục và thái độ 
của họ như thế nào?
- Các khâu chuẩn bị cho sự kiện đã 
được chuẩn bị như thế nào?
b. Quá trình diễn ra sự kiện:
- Sự kiện diễn ra với các hoạt động nào? 
Đâu là hoạt động chính và được mọi 
người mong chờ nhất?
- Các sự kiện diễn ra lần lượt ra sao? 
Với sự dẫn dắt và tham gia của những 
ai?
- Thái độ, cảm xúc của những người 
đến dự sự kiện như thế nào?
- Ấn tượng của bản thân về sự kiện? 
(cách trang trí, hoạt động, âm nhạc, ánh 
sáng, khách mời, quy mô )
- Kết quả của sự kiện như thế nào?
III. Kết bài
- Suy nghĩ, đánh giá về sự kiện và.
- Ý nghĩa của sự kiện đó.

Tài liệu đính kèm:

  • docxngan_hang_cau_hoi_mon_ngu_van_6_vu_thi_thanh_hai.docx