CHUYÊN ĐỀ KĨ THUẬT TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG TRONG MÔN GDCD LỚP 6, BỘ SÁCH CHÂN TRỜI SÁNG TẠO. I. LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ Bàn đến phương pháp dạy học phát triển năng lực, phẩm chất HS, là việc thiết kế kế hoạch bài dạy gồm 4 hoạt động. Mỗi hoạt động có một nhiệm vụ riêng, cách thức riêng. Năm học 2021-2022 là năm đầu tiên đưa việc giảng dạy theo chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, với nhiệm vụ của người giáo viên dạy môn GDCD lớp 6, bộ sách Chân trời sáng tạo, tôi được lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn phân công viết chuyên đề về “kĩ thuật tổ chức hoạt động khởi động” (hoạt động 1). Tôi xin được trình bày những cách tiếp cận, tôi rất mong nhận được sự chia sẻ, đóng góp của các thầy, cô, các bạn đồng nghiệp nhằm góp phần thực hiện mục tiêu dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho người học. II. NỘI DUNG. 1. Căn cứ để xây dựng chuyên đề. Khi xây dựng kế hoạch bài dạy, đối với mỗi bài học, giáo viên phải xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học theo phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực (12 tiêu chí phân tích, rút kinh nghiệm bài dạy tại Công văn số 5555/BGDĐT - GDTrH ngày 08/10/2014). Cụ thể, mỗi kế hoạch bài dạy phải thể hiện rõ nội dung kiến thức cần dạy (nêu cụ thể nội dung kiến thức học sinh cần học trong bài để thực hiện được yêu cầu cần đạt của nội dung/chủ đề tương ứng trong chương trình môn học/hoạt động giáo dục) làm cơ sở thực hiện mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh gắn với nội dung kiến thức đó. Mục tiêu và tiến trình tổ chức các hoạt động học của học sinh trong mỗi bài học như sau: 1. Hoạt động 1: Xác định vấn đề/nhiệm vụ học tập/Mở đầu a) Mục tiêu: (Nêu mục tiêu giúp học sinh xác định được vấn đề/nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết trong bài học hoặc xác định rõ cách thức giải quyết vấn đề/thực hiện nhiệm vụ trong các hoạt động tiếp theo của bài học). b) Nội dung: (Mô tả hoạt động của học sinh để xác định vấn đề cần giải quyết/nhiệm vụ học tập cần thực hiện và đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề/cách thức thực hiện nhiệm vụ). c) Sản phẩm học tập: (Trình bày cụ thể yêu cầu về nội dung và hình thức của sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành: viết, trình bày được vấn đề cần giải quyết hoặc nhiệm vụ học tập phải thực hiện tiếp theo và đề xuất giải pháp thực hiện). d) Tổ chức hoạt động: (Trình bày cụ thể các bước tổ chức hoạt động học cho học sinh từ chuyển giao nhiệm vụ, theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua sản phẩm học tập). 2. Cách tổ chức hoạt động 1. a. Đặc trưng của hoạt động khởi động: Khởi động là hoạt động đầu tiên, hoạt động này nhằm giúp học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề có nội dung liên quan đến bài học mới. Mặt khác hoạt động này nhằm giúp học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề có nội dung liên quan đến bài học mới. Hoạt động này sẽ kích thích tính tò mò, sự hứng thú, tâm thế của học sinh ngay từ đầu tiết học. b. Các kĩ thuật tổ chức: b.1. Thứ nhất là khởi động tiết học dưới dạng trò chơi như: Đuổi hình bắt chữ, Giải ô chữ, Trò chơi nhanh như chớp, Trò chơi phá băng, trò chơi mảnh ghép... Theo Tiến sĩ Ngô Thị Thu Dung - Giám đốc điều hành Trung tâm nghiên cứu phát triển giáo dục cộng đồng (Trường ĐH GD-ĐHQG Hà Nội): "Trò chơi là một hình thức giao tiếp bạn bè, phát triển tốt các năng lực giao tiếp, trò chơi đồng thời là một phương tiện mà thông qua đó HS có thể giao tiếp với nhau một cách tự nhiên và dễ dàng hơn". Với việc sử dụng trò chơi giúp cho hoạt động dạy học trở nên sôi nổi, cuốn hút, giúp học sinh rèn luyện sự mạnh dạn, tự tin, khả năng phản xạ nhanh, sự sáng tạo, nâng cao tinh thần đoàn kết và sự tương tác giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên... Các trò chơi thường được giáo viên tổ chức liên quan đến kiến thức của các tiết học trước học sinh sẽ được tái hiện kiến thức hay kiểm tra nhận thức của học sinh về những vấn đề liên quan đến bài học mới, làm tiền đề để giáo viên dẫn vào bài một cách hấp dẫn. b.2. Thứ hai là sử dụng tranh ảnh, video – clip có liên quan đến bài học. Mục đích của việc sử dụng tranh ảnh, video-clip để học sinh được trải nghiệm, được phát huy những tri thức vốn có của mình về vấn đề của tiết học tạo thêm hứng thú cho giờ học. Ví dụ 1. Bài 10: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam. Khởi động trang 39 GV: chuyển giao nhiệm vụ: Em hãy quan sát các hình ảnh dưới đây và trả lời câu hỏi: - Em hãy nêu tên các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt nam mà em biết? - Theo em, công dân Việt Nam thuộc các dân tộc khác nhau trên đất nước ta có quyền và nghĩa vụ như nhau không? HS thực hiện nhiệm vụ: quan sát, trao đổi. HS báo cáo. GV kết luận. - Một số dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt nam mà em biết là: Kinh, Dao, Thái, Mông, Mường, Ê-đê, Ba na, Chăm, La chí, Tày,... - Theo em, công dân Việt Nam thuốc các dân tộc khác nhau trên đất nước ta có quyền và nghĩa vụ như nhau, bởi vì đã là công dân Việt Nam thì sẽ có quyền và nghĩa vụ như nhau. Ví dụ 2. Bài 9: Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khởi động trang 34: GV: chuyển giao nhiệm vụ: Em hãy quan sát các bạn dưới dây và đoán xem bạn nào là công dân Việt Nam, bạn nào không phải là công nhân Việt Nam? HS thực hiện nhiệm vụ: quan sát, trao đổi. HS báo cáo. GV kết luận: - Công dân Việt Nam là các bạn: Hoa, Sùng Nhi. - Không phải công dân Việt Nam: Nam Peter, Anna, jim. b.3. Thứ ba là khởi động bằng các bài tập hay câu hỏi tình huống. Các câu hỏi trong phần khởi động có thể chỉ là một tình huống để cho học sinh phát hiện hay huy động vốn hiểu biết của mình để giải quyết tình huống ấy. Các vấn đề hay câu hỏi được đưa ra sẽ giúp học sinh phát triển tư duy, xâu chuỗi vấn đề một cách mạch lạc đồng thời tạo hứng thú cho học sinh vào tiết học mới để khám phá vấn đề còn đang bỏ ngỏ. Ví dụ: Giáo dục công dân lớp 6 Bài 11: Quyền cơ bản của trẻ em Khởi động trang 44 GV: chuyển giao nhiệm vụ: Em hãy đọc bức thư sau đây và trả lời câu hỏi - Bạn Nguyệt Linh có quyền viết bức thư trên không? Vì sao? - Hãy nêu những quyền cơ bản của trẻ em mà em biết? HS thực hiện nhiệm vụ: quan sát, trao đổi. HS báo cáo. GV kết luận - Bạn Nguyệt Linh có quyền viết bức thư trên, bởi vì đây là một trong những quyền cơ bản của trẻ em, đó là quyền tự do ngôn luận. - Một số quyền cơ bản của trẻ em mà em biết là: + Quyền học tập và phát triển. + Quyền tự do ngôn luận. + Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng. + Quyền được vui chơi, giải trí Xem thêm các bài giải bài tập Giáo dục cô b.4. Thứ tư là khởi động bằng cách sử dụng kho tàng tục ngữ, ca dao, thành ngữ, thơ... Ca dao, tục ngữ rất phong phú trong văn học dân tộc lại có đặc điểm về nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên giáo viên sử dụng sẽ tạo hứng thú học tập cho các em hơn. Đặc biệt đối với các bài về đạo đức thì việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ, thơ... cho hoạt động khởi động sẽ phát huy hiệu quả rất cao. Ví dụ Khởi động trang 28 GV: chuyển giao nhiệm vụ: Em hãy đọc tình huống sau và trả lời câu hỏi: Một người con ở quê chuẩn bị đi học xa. Người mẹ ân cần dặn dò con: “đi xa mẹ có dặn dò Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” (Ca dao) Qua câu ca dao người mẹ muốn khuyên con điều gì? HS thực hiện nhiệm vụ: quan sát, trao đổi. HS báo cáo. GV kết luận Qua câu ca dao người mẹ muốn khuyên con điều: khi gặp sông sâu chớ có lội qua, đò đầy người thì đừng cố lên vì như vậy sẽ rất nguy hiểm. b.5. Thứ năm là khởi động bài học bằng cách sử dụng lời một bài hát, các câu chuyện. Có thể là chuyện dân gian, chuyện trong nước, chuyện nước ngoài, chuyện pháp luật, các câu chuyện về Bác Hồ... hay là lời một bài hát, hoặc cô giáo hát, khi thiết kế hoạt động khởi động cho các bài dạy GDCD tạo sự hấp dẫn cho giờ học. Ví dụ: Bài 12: Thực hiện quyền trẻ em Khởi động trang 59: GV: chuyển giao nhiệm vụ: Em hãy lắng nghe bài hát Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai (Lời thơ: Phùng Ngọc Hùng, phổ nhạc: Lê Mây) và trả lời câu hỏi: Từ bài hát, em rút ra được thông điệp gì về quyền trẻ em? HS thực hiện nhiệm vụ: quan sát, trao đổi. HS báo cáo. GV kết luận Từ bài hát, em rút ra được thông điệp về quyền trẻ em: trẻ em của ngày hôm nay thì sau này sẽ là mầm non tương lai cho đất nước , sau này có thể xây dựng lại đất nước ta ngày càng giàu đẹp hơn. b.6. Thứ sáu là khởi động bằng cách sử dụng phương pháp đóng vai. Đóng vai là một trong những cách thức đem lại hiệu quả cao trong phần khởi động bài học, là Phương phápGiáo dục Giúp học sinh thực hành cách ứng xử, bày tỏ Thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em. Với việc sử dụng phương pháp đóng vai trong thiết kế hoạt động khởi động sẽ đem lại hiệu quả trong quá trình dạy học. 3. Các bước tổ chức thực hiện một hoạt động học - Chuyển giao nhiệm vụ (giáo viên giao, học sinh nhận): Trình bày cụ thể giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh (đọc/nghe/nhìn/làm) với thiết bị dạy học/học liệu cụ thể để tất cả học sinh đều hiểu rõ nhiệm vụ phải thực hiện. - Thực hiện nhiệm vụ (học sinh thực hiện, giáo viên theo dõi, hỗ trợ): Trình bày cụ thể học sinh thực hiện nhiệm vụ (đọc/nghe/nhìn/làm) gì theo yêu cầu của giáo viên; dự kiến những khó khăn mà học sinh có thể gặp phải kèm theo biện pháp cần hỗ trợ; dự kiến các mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu. - Báo cáo, thảo luận (giáo viên tổ chức, điều hành; học sinh báo cáo, thảo luận): Trình bày cụ thể "ý đồ" lựa chọn các nhóm học sinh báo cáo và cách thức cho học sinh báo cáo (có thể chỉ 1-2 nhóm; viết lên bảng hay dùng giấy A0 hay máy chiếu, thuyết trình). Nêu rõ cần làm rõ những nội dung/yêu cầu nào để học sinh ghi nhận, thực hiện. - Kết luận, nhận định (giáo viên "chốt"): Trình bày cụ thể sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành theo yêu cầu (làm căn cứ để nhận xét, đánh giá các mức độ hoàn thành của học sinh trên thực tế tổ chức dạy học): Làm rõ vấn đề cần giải quyết/giải thích; nhiệm vụ học tập phải thực hiện tiếp theo./. III. KẾT LUẬN. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học là nhằm xây dựng người học chủ động, tự tin, năng động, có khả năng thực hành, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống. Người dạy trong bộ môn GDCD có vai trò quan trong trong việc tổ chức, hướng dẫn, để cho HS được thực hiện nhiều hơn. Trong phạm vi của chuyên đề tôi chỉ khẳng định: GV nghiên cứu kĩ hoạt động khởi động, tạo động lực để HS làm chủ kiến thức, yêu thích tiết học, bài học. Làm được như vậy thì giờ học hiệu quả, thể hiện rõ đặc trưng của bộ môn là thông qua hành vi để uốn nắn, giáo dục, hình thành những năng lực, phẩm chất của thế hệ con người mới phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển.
Tài liệu đính kèm: